Chương cuối: Chị là bóng tối, cũng là ánh sáng

Tiếng chuông điện thoại phá tan màn đêm yên tĩnh, đột ngột, chói tai, xuyên thẳng vào não bộ.

Lý Ninh Ngọc vừa mới mơ mơ màng màng ngủ thiếp đi thì lại bị tiếng chuông điện thoại này khiến cho mí mắt bỗng nhiên giật một cái. Cô bước xuống giường mang dép, nhận điện thoại, bình thản giống như nhận vô số cuộc điện thoại nhàm chán thường ngày, dùng câu hỏi nhất quán để mở đầu: "Xin hỏi ai vậy?" trong giọng nói còn mang theo chút ngáy ngủ.

"Chị Ngọc, em phải rời khỏi Nam Kinh rồi." Giọng nói của Cố Hiểu Mộng trực tiếp truyền đến, không có hàn huyên tâm sự, trực tiếp ném đến một quả bom. Phía bên kia đầu dây rất ồn ào, giống như có tiếng đập cửa thúc giục, vội vã. Giọng nói của Cố Hiểu Mộng mặc dù tương đối ổn định, nhưng Lý Ninh Ngọc nhạy bén tóm được âm cuối đầy hốt hoảng, sợ hãi và run rẩy của nàng, giống như một chú thỏ con đang hoảng sợ.

Trong nháy mắt, trái tim của Lý Ninh Ngọc như bị bóp nghẹn. Phản ứng đầu tiên của cô chính là lo lắng Cố Hiểu Mộng có bị thương và chịu ủy khuất hay không. Cô nôn nóng muốn biết đã xảy ra chuyện gì.

Nhưng cuộc điện thoại này quá ngắn. Sau khi Cố Hiểu Mộng vội vã nói một câu "Lý Ninh Ngọc, em yêu chị" thì đã lập tức cúp máy, dứt khoát, không hề do dự.

Sáu chữ này, tuy được nói ra vô cùng vội vàng, nhưng sức công phá rất lớn, khiến cho Lý Ninh Ngọc mất một lúc lâu vẫn chưa thể hoàn hồn.

Cố Hiểu Mộng rất ít khi kêu hoàn chỉnh cả tên lẫn họ của cô. Trong trí nhớ của Lý Ninh Ngọc, hình như chỉ từng có một lần, chính là lúc ở Cầu trang. Lần đó nàng thực sự rất tức giận, kêu họ tên của cô ra. Hoặc là đôi khi nàng cũng sẽ làm nũng kêu tên của cô, nhưng số lần thực sự rất hiếm hoi. Lần đầu tiên Lý Ninh Ngọc cảm thấy tên của mình, đặt chung với ba chữ "em yêu chị" lại nặng nề đến vậy.

Quân đội Quốc dân Đảng và một bộ phận của cơ quan chính phủ đều đang rút lui về phía nam. Chuyện này Lý Ninh Ngọc biết. Nhưng nếu như không có biến số, có lẽ Cố Hiểu Mộng vẫn có thể rời khỏi đội ngũ mà ở lại đó, hoặc là gián tiếp đi đến một nơi khác rồi tìm cơ hội đến Bắc Bình. Nhưng nhìn tình huống hiện tại, có lẽ Cố Hiểu Mộng đã bị ép rời khỏi Nam Kinh rồi, hơn nữa lại xảy ra quá đột ngột, khiến cho nàng không kịp chuẩn bị.

Trong bóng đêm, Lý Ninh Ngọc do dự một lát, vẫn quyết định bấm một dãy số. Phía bên kia đầu dây mất một lúc lâu mới có người nhận điện thoại. Một giọng nói trầm ổn truyền đến: "Ai đó?"

Lý Ninh Ngọc trả lời: "Chào ngài, tôi là Lý Ninh Ngọc."

Người bên kia đầu dây dường như có chút ngoài ý muốn với cuộc điện thoại này của Lý Ninh Ngọc, hỏi một câu: "Đồng chí Ninh Ngọc, đã trễ như vậy rồi, xảy ra chuyện gì?"

Lý Ninh Ngọc ổn định tinh thần, lời ít ý nhiều, nói: "Lúc nãy tôi vừa nhận được điện thoại của đồng chí Hiểu Mộng. Em ấy nói phải lập tức rời khỏi Nam Kinh." Sau đó Lý Ninh Ngọc dừng lại một chút, lời muốn nói ra miệng lại nuốt ngược trở vào, chỉ nói tiếp một câu: "Tôi muốn biết em ấy có sao không."

Đầu dây bên kia cũng không trả lời ngay lập tức mà im lặng một lúc. Sự trầm mặc trong lúc này chính là đang tiêu hóa tin tức và muốn bày tỏ sự bất mãn với cuộc điện thoại lỗ mãng của Lý Ninh Ngọc đã vi phạm kỷ cương công tác.

Bên kia khẽ thở dài một tiếng, nói tiếp: "Tôi hiểu nỗi lo lắng của cô. Tin tức cô đưa ra rất quan trọng. Đồng chí Hiểu Mộng không có tên trong danh sách tiếp tục ẩn nấp..."

Cơn gió xuân liều mạng len lỏi qua khe cửa, phát ra tiếng kêu thê lương, bén nhọn. Thế giới bên ngoài phòng bị cuồng phong thổi tung. Những nhánh cây trong viện bị gió thổi nghiêng ngã bốn hướng. Lá cây và hoa phát ra âm thanh xào xạc. Phía bên trong căn phòng lại được bao phủ bởi sự ấm áp và quyến luyến. Không khí chậm rãi lưu chuyển.

Sự ấm áp này thuộc về những người đang say giấc mộng, không thuộc về Lý Ninh Ngọc.

Lý Ninh Ngọc choàng thêm áo khoác, bỗng nhiên mở toang cửa phòng. Cơn gió "vù" một tiếng, tràn vào bên trong, thổi tung vạt áo của cô, dường như cũng muốn thổi bay cả cô, nhưng Lý Ninh Ngọc vốn không rảnh để bận tâm. Cô nhanh chân bước vào trong cơn gió, rảo bước trong bóng đêm, giống như chỉ cần đi về phía trước, chỉ cần bước đi trên đường thì cô sẽ bắt được một thứ gì đó vậy.

Lý Ninh Ngọc đi về phía sân bay. Trong đầu cô chỉ còn lại một suy nghĩ duy nhất, chính là đi tìm Cố Hiểu Mộng.

Thực sự có thể đi sao? Thực sự có thể tìm thấy sao? Cô biết đáp án cho những câu hỏi này đều là phủ định. Bộ não của cô, cho dù ngay trong giờ phút này, vẫn giữ lại được lý trí mà nói cho cô biết, không có kết quả đâu. Thế nhưng, nếu cứ bước đi như vậy thì ít nhất trong lúc này, cô còn có thể làm được một chuyện gì đó, có thể tạm thời kiềm chế sự luống cuống phát ra từ trong nội tâm của mình.

Lý Ninh Ngọc luôn luôn dùng hành động để thể hiện tình cảm, cũng như khắc chế tình cảm.

Có nhiều thứ không thể giữ lại được, ví dụ những sinh mạng như lục bình trôi giữa thời loạn kia. Từ lâu cô đã hiểu được đạo lý này. Cô bước đi trên con đường này, chạy về phía thời đại hoàng kim. Có người đến, lại có người rời đi. Lúc mọi người rời đi, gây ra cho cô một vết thương, nhưng cũng đồng thời đẩy cô một cái, khiến cho cô không thể không gia tăng tốc độ, lại càng gia tăng tốc độ.

Sau này Cố Hiểu Mộng xuất hiện, đi cùng cô trên một đoạn đường rất dài. Cô chạy, nàng cũng liều mạng chạy theo. Sự xuất hiện của Cố Hiểu Mộng khiến cho Lý Ninh Ngọc nhìn thấy được điểm đến cuối cùng. Cô nghĩ, dù sao thì bản thân cũng không thể chạy như vậy suốt cả đời. Dưới đường chân trời, khi mặt trời ló dạng, cô cũng có suy nghĩ muốn dừng lại. Đem những sự vùng vẫy, biệt ly và hứa hẹn đều vùi lấp trong quá khứ, sau đó hướng về ánh mặt trời mà sống tiếp, bên cạnh Cố Hiểu Mộng.

"Dương phu hề phụ cổ, thư hoãn tiết hề an ca." Nếu như cuộc sống không có chướng ngại, có thể tự do chọn lựa theo ý muốn của bản thân thì có ai sẽ từ chối ở bên cạnh người mình yêu thương, từ chối một cuộc sống tự do tự tại chứ?

Lý Ninh Ngọc không biết bản thân đã đi qua bao nhiêu con phố, rốt cuộc vô lực ngồi xuống ở một chiếc ghế dài ven đường. Cả con đường đều chìm trong màn đêm. Gió lớn cuốn theo một chút bụi đất và một vài mảnh rác nơi góc đường.

Không biết ánh mắt của Lý Ninh Ngọc đang tập trung ở chỗ nào. Cô thất thần nhìn vào bóng đêm vô tận trước mắt, giống như cô không thể trông thấy được đồ vật xung quanh mình, cũng không thấy được phương hướng của con đường phía trước.

Cố Hiểu Mộng đứng trong cơn gió lạnh của năm 1945, cách cô chỉ vài chục bước chân, hô to: "Chị, thắng lợi gặp lại, đến lúc đó, chị nhất định phải chờ em nhé." Mặc dù trong mắt nàng đong đầy những giọt lệ nhưng lại liều mạng tặng cho cô một nụ cười tràn đầy hi vọng và ánh nắng.

Mà bây giờ, trong cơn gió lạnh năm 1949, Lý Ninh Ngọc đã quyết định dừng lại rồi, nhưng lại phát hiện, có lẽ cô không thể đợi được Cố Hiểu Mộng nữa rồi.

Có nhiều thứ không thể giữ được, ví dụ như vận mệnh khó có thể bị người ta nắm bắt và nơi người ta thuộc về. Từ lâu Lý Ninh Ngọc đã hiểu rõ đạo lý này. Nhưng cô lại không rõ, tại sao suốt cả đời này của cô, ngay cả một món đồ hay một người cũng không thể giữ lại được.

"Lý Ninh Ngọc tôi có lẽ nên xuống địa ngục nhỉ?" Lý Ninh Ngọc hỏi. Cô hỏi màn đêm trống rỗng, hỏi cái thế giới từng lắng nghe vô số tiếng than khóc và chất vấn nhưng trước giờ đều chưa từng đáp lại một câu trả lời nào.

Phía xa xa, một chùm sáng rọi đến. Cảnh sát tuần tra đi tới, kinh ngạc nhìn Lý Ninh Ngọc, một tay còn đang vịn chặt cây gậy cảnh sát treo bên hông.

Cảnh sát đánh giá Lý Ninh Ngọc nửa ngày, thấy cô mặc đồ ngủ, tùy tiện khoác thêm một chiếc áo khoác, ngay cả nút cũng không cài. Áo khoác bị gió thổi tung bay. Cô lạnh đến mức bờ môi không ngừng run rẩy nhưng vẫn không có ý định cài nút áo lại, giống như cái lạnh chỉ ảnh hướng đến thể xác này, chứ không phải là cô vậy.

Ánh sáng rọi lên người nhưng cũng không thể thu hút được sự chú ý của cô. Mũi chân của cảnh sát đã sắp chạm đến chân của cô rồi, nhưng ánh mắt của cô lại không hề dao động một chút nào.

"Cô ở đây làm gì?" Ngữ khí của cảnh sát cũng không mấy dễ chịu, có hơi nghiêm khắc, giống như để tăng thêm lòng dũng cảm cho mình.

Qua một khoảng thời gian rất lâu, Lý Ninh Ngọc mói mở miệng nói chuyện: "Tôi ngồi nghỉ tạm ở chỗ này một chút."

Cảnh sát hỏi cô: "Cô muốn đi đâu? Nhà cô ở đâu?" ... Sau khi hỏi một vài vấn đề, đáp lại anh ta chỉ là sự im lặng. Cảnh sát chưa bao giờ thấy người nào trì độn đến thế này. Cô đắm chìm trong thế giới của mình nhưng lại giống như tro tàn bị gió cuốn đi, không hề có chút sức sống.

Bởi vì vừa được hòa bình độc lập, tình hình trong thành khẩn trương, cảnh sát quyết định đem Lý Ninh Ngọc về cục trước. Anh ta đi đến kéo tay Lý Ninh Ngọc, nói: "Cô trước tiên hãy đi đến cục Cảnh sát với tôi đã, như thế này rất nguy hiểm."

Lý Ninh Ngọc nhìn anh ta một cái. Anh ta kéo cô, cô cũng không phản kháng, bị kéo đi thì cũng thuận theo anh ta.

Thật ra Lý Ninh Ngọc cũng không biết nên đi đâu. Cô không muốn suy nghĩ nữa. Cả đời này của cô đều đắm chìm trong suy xét, bố cục, mưu tính, nhưng từ đầu đến cuối, thứ cô đạt được chỉ là cơn gió mát rót đầy ống tay áo. Giờ phút này, cô không muốn suy nghĩ nữa.

Trong cục Cảnh sát ấm áp hơn rất nhiều. Lý Ninh Ngọc ngồi trên băng ghế dài trong sảnh chính. Tuy đêm đã khuya nhưng nơi này lại vô cùng ồn ào.

Một người mẹ ngồi bệt dưới đất, kêu gào tên của đứa con đã chết. Tiếng khóc như muốn xé toạc yết hầu, như muốn phá tung nóc của căn phòng kia.

Một người cảnh sát mang một ông lão say rượu về. Khuôn mặt ông ta đỏ bừng, ồn ào, dáng vẻ vô lại, nhưng khi nghe thấy tiếng khóc của người mẹ kia thì cũng ôm mặt òa khóc. Con của ông ta, vào mấy năm trước bị Quốc Dân đảng kéo đi làm tráng đinh, nhập ngũ. Bây giờ Bắc Bình cũng đã giải phóng rồi nhưng con của ông ta vẫn bặt vô âm tín, không biết sống chết.

Một bà lão ăn xin bị lạnh đến mức run lẩy bẩy, nhút nhát đi đến, ngồi xổm cạnh cửa trong một góc phòng, co cụm người. Lúc cảnh sát đi đến, bà ấy lại co rút vào sát trong góc, vội vã giải thích: "Quan gia, tôi chỉ ở đây một lúc thôi." Sau đó người cảnh sát kia đi vào trong phòng, lấy ra hai chiếc màn thầu đã nguội lạnh. Bà ấy run run rẩy rẩy giơ hai tay lên nhận lấy, đôi mắt đã vẩn đục không ngăn được dòng nước mắt chảy ra.

Nỗi thống khổ trên thế gian, giống như bầu trời đêm trên đỉnh đầu, mênh mông không có bến bờ. Trong những tiếng than khóc này, suy nghĩ của Lý Ninh Ngọc bắt đầu ùa về. Ngôn ngữ đột nhiên trở nên quá mức tầm thường. Vứt lại những từ ngữ miêu tả quá nhẹ nhàng như trốn chạy, chờ đợi,... kia, nỗi thống khổ của Lý Ninh Ngọc dần trở nên cụ thể hơn. Cô đã mất đi người yêu, hoặc có thể nói, người yêu của cô lạc đường mất rồi. Về mặt bản chất, cô so với những người mất đi con cái, mất đi cuộc sống này, cũng không có gì khác biệt.

Một giọt lệ từ trong hốc mắt của Lý Ninh Ngọc chảy ra, biến thành một ngôi sao trên khoảng trời đêm mênh mông. Sau đó nước mắt cứ tí tách rơi xuống đất, một giọt nối tiếp một giọt, rơi xuống.

Trời đã sáng, đường phố lại trở nên rộn ràng nhộn nhịp. Sạp trà được bày ra. Mọi người tụm năm tụm ba tụ lại một chỗ uống trà, nói mấy chuyện vặt của hôm qua. Rạp hát trưng ra bảng hiệu, đêm nay sẽ hát "Ngọc trâm ký". Đối với những câu chuyện nói về tình yêu, mọi người đều nguyện ý muốn xem một kết thúc có hậu. Dù sao họ luôn chấp nhận tin tưởng, sau khi trải qua khó khăn trắc trở, thứ chờ đợi ta ở phía cuối con đường chính là một kết cục viên mãn.

Sau một đêm, Lý Ninh Ngọc dường như liên tục thay đổi, lại cũng bắt đầu chờ đợi cái kết "gương vỡ lại lành" mà định mệnh sắp đặt. Lần đầu tiên, cô khuất phục trước vận mệnh.

Cô có thể tâm phục khẩu phục cúi đầu trước vận mệnh, chỉ cần vận mệnh có thể giúp cô giữ lại được Cố Hiểu Mộng mà bản thân cô không có cách nào giữ lại được.

Lúc Cố Hiểu Mộng đến Quảng Châu thì trời đã sáng. Nàng vừa ra khỏi cửa khoang máy bay thì đã nhìn thấy mấy tên vệ binh đứng đợi sẵn. Bọn họ chủ động xách hành lý giúp nàng nhưng một tấc cũng không rời nàng, dẫn nàng vào trong phòng chờ.

Bọn họ không có ý cho Cố Hiểu Mộng rời khỏi đây, cũng không đưa ra bất cứ lời giải thích nào. Cố Hiểu Mộng ngồi đợi trên một chiếc ghế cũng không tính là quá mềm mại. Nàng cũng không biết thứ đang chờ đợi nàng là gì. "Có lẽ là hữu kinh vô hiểm, có thể là sự trùng phùng." Cố Hiểu Mộng nghĩ.

Trước khi bị viên đạn ghim vào đầu, nàng luôn luôn giữ được tinh thần lạc quan.

Cố Hiểu Mộng đợi trong phòng chờ hai ngày hai đêm, trong khoảng thời gian đó, nàng từng chất vấn vệ binh rất nhiều lần, cũng từng nổi nóng vài lần, nhưng vệ binh đều không nhúc nhích, giống như một quyền đấm vào bông gòn, khiến cho Cố Hiểu Mộng dần nhụt chí.

Bên trong phòng chờ có một khung cửa sổ lớn, có thể nhìn thấy một góc cảnh sắc bên ngoài sân bay. Nhưng bây giờ, khung cảnh ngoài cửa sổ lại vô cùng hỗn loạn. Mọi người chen lấn nhau, cầm vé máy bay, tiền mặt, giấy thông hành trên tay, ồn ào ngày đêm không dứt, chờ mong vệ binh ở cửa sẽ đọc đến tên của mình. Bên ngoài sân bay, hành lý, bao bố, quần áo những thứ họ không thể mang theo lên máy bay bị vứt tán loạn khắp nơi, mãi mãi bị bỏ lại ở nơi này. Trong sân bay, máy bay tới tới lui lui, một phút cũng không ngừng lại.

Hóa ra đây chính là dáng vẻ của sự hủ bại.

Chỉ là, sự hủ bại đặt lên người của những con người này lại có một cái tên khác - sự tàn nhẫn. Cố Hiểu Mộng nhìn những khuôn mặt tràn đầy lo lắng, mệt mỏi thậm chí đã nước mắt lưng tròng kia, rồi đột ngột quay mặt sang chỗ khác.

Có vài người muốn rời đi, lại không đi được. Có vài người muốn ở lại, lại không thể không rời đi. Thật ra sau này, khi Cố Hiểu Mộng nhớ lại đoạn thời gian này thì lại cảm thấy những kí ức đó vô cùng mơ hồ, lộn xộn, không theo bất cứ trật tự logic nào. Tại sao nàng lại bị kéo đi, gạt qua một bên, từng bước từng bước cách Lý Ninh Ngọc càng ngày càng xa. Rất nhiều chi tiết đều không thể nhớ nỗi. Tất cả mọi chuyện xảy ra quá đột ngột, khiến cho nàng không kịp trở tay, cũng làm nàng không cách nào xoay chuyển được. Nàng chỉ biết, hi vọng của bản thân, từng chút từng chút bị dập tắt.

Cố Hiểu Mộng đợi ở sân bay chưa đến ngày thứ ba thì đã nghe thấy giọng nói lạnh như băng của vệ binh thông báo nàng sẽ lập tức lên máy bay rời khỏi chỗ này. Cố Hiểu Mộng ngồi yên ở đó, không có ý muốn nhúc nhích. Nàng liếc mắt nhìn vệ binh, cười lạnh một tiếng, nói: "Đi đâu?"

"Chúng tôi chỉ phụ trách đưa cô an toàn lên máy bay."

Cố Hiểu Mộng khoanh tay, quân phục trên người nàng cong thành những nếp gấp đẹp mắt, ngôi sao trên quân hàm lóe ra ánh sáng lấp lánh. Cho dù đã hai ngày rồi chưa được nghỉ ngơi, nhưng trên người Cố Hiểu Mộng vẫn không hề nhìn ra được dáng vẻ mệt mỏi hay ủ rũ. Lúc ở trước mặt người khác, Cố Hiểu Mộng mãi mãi mang theo thần thái xán lạn, giàu có, tài hoa và khí chất mà lý lịch quân nhân bồi đắp, khiến cho nàng khó có thể bị người khác xem thường.

"Quốc Dân Đảng thực sự loạn đến mức như vậy rồi sao? Chỉ với mấy tên lính quèn như các người mà cũng có thể áp giải tôi sao?"

Mấy tên vệ binh cũng không nói thêm điều gì khác. Sau khi chào Cố Hiểu Mộng một cái thì một người xách hành lý, hai người trực tiếp đi đến áp giải Cố Hiểu Mộng. Cố hiểu Mộng vùng vẫy một chút, nhưng khi đôi tay của mấy tên vệ binh kia giống như một chiếc kìm, kẹp chặt cánh tay của nàng, Cố Hiểu Mộng mới cảm nhận được một luồng sức mạnh tuyệt đối, không thể chống cự.

Giống như trên thuyền mật mã, trong Cầu trang, sống chết của nàng chỉ dựa vào một ý nghĩ của người Nhật Bản. Giống như trong phòng tra tấn, Nakanishi có thể tùy ý đánh vỡ lục phũ ngũ tạng của nàng. Giống như bây giờ, nàng bị áp giải lên máy bay, không còn có thể nắm giữ tương lai của bản thân nữa.

Nàng đứng ở cửa khoang máy bay, nhìn về nơi đông nghịt phía xa xa , nhìn đám người muốn chủ động lựa chọn vận mệnh của chính mình, cười khổ một cái, sau đó bước vào máy bay.

Cố Hiểu Mộng cứ vậy được đưa đến Đài Loan. Một tháng sau khi nàng nhìn thấy bài văn "Đợi người", nàng đã đi đến một nơi cách Bắc Bình gần ba ngàn cây số, nơi cách Bắc Bình cả một đại dương.

Bây giờ Cố Hiểu Mộng đã hoàn toàn biến thành một kẻ mù điếc. Nàng không thể nắm được bất cứ tin tức gì, bao gồm cả việc tại sao nàng lại đến nơi này, baba của nàng đang ở đâu, nàng còn phải đi đến đâu nữa. Cố Hiểu Mộng đưa mắt nhìn quanh bốn phía, xung quanh đều là những khung cảnh và gương mặt xa lạ.

Nàng ngồi trong xe, đi qua một con phố sầm uất, một làng quê hoang tàn. Sau khi đi qua một con đường làng nữa, nàng được đưa đến một căn viện rộng, trông cũng không quá cũ kỹ. Đối diện là một tòa ký túc xá không quá lớn. Căn viện cực kỳ yên tĩnh, có thể nhìn ra được nơi này cũng không có quá nhiều người ở.

Hai đặc vụ một trái một phải theo sát Cố Hiểu Mộng, mặc trên người thường phục kiểu Tôn Trung Sơn. Một người đàn ông trung niên từ trong tòa nhà đi ra, đi đến trước mặt Cố Hiểu Mộng, ngoài cười nhưng trong không cười, nói: "Cố thiếu tướng, nghe danh đã lâu."

Sự phản cảm của Cố Hiểu Mộng làm cách nào cũng không đè nén được, vẻ khinh thường và ghét bỏ thể hiện rõ trên khuôn mặt: "Đây là chỗ nào?"

"Nơi này là tổ Điều tra Bí mật của Trung Thống." Người kia nói xong thì mỉm cười đầy đắc ý. Một nhân vật phong vân ở Quân Thống như Cố Hiểu Mộng rơi vào tay của ông ta, khiến cho ông ta vô cùng hưng phấn.

Sắc mặt của Cố Hiểu Mộng trong nháy mắt cứng đờ, hai hàng chân mày nhíu chặt lại với nhau. Nàng bị đưa đến tổ Điều tra Bí mật của Trung Thống, chứng tỏ dự đoán xấu nhất mà nàng luôn cố gắng né tránh đã biến thành hiện thực rồi.

"Baba của tôi đâu?" Cố Hiểu Mộng hỏi.

Người kia nhún nhún vai, không trả lời.

Vali của Cố Hiểu Mộng bị mở ra, đổ xuống nền xi măng đầy bụi bẩn. Những thứ bên trong khiến cho người đàn ông trung niên kia vô cùng thất vọng, chỉ có vài bộ quần áo, vài cuốn sách, vài chai lọ gì đó, đều là đồ dùng của phụ nữ.

Người kia đưa tay lật từng món, ở dưới đáy hòm phát hiện vài bức ảnh chụp và vài tờ báo. Ông ta lấy mấy tấm ảnh ra xem, có ảnh của Cố Dân Chương, có một bức Cố Hiểu Mộng chụp chung với Tống Chước, có bức chụp một mình Cố Hiểu Mộng, còn có hai tấm ảnh chụp riêng một người phụ nữ khác. Cố Hiểu Mộng thấy ông ta cầm ảnh chụp, đưa tay muốn giật lại.

Đặc vụ đứng phía sau nhanh tay lẹ mắt, bước một bước dài, chụp lấy bả vai của Cố Hiểu Mộng, ra tay rất mạnh, khiến cho Cố Hiểu Mộng đau đến mức hít vào một ngụm khí lạnh.

Người đàn ông trung niên nhìn Cố Hiểu Mộng một chút, cười khinh miệt, nói: "Đến nơi này rồi thì thu lại tính tình của cô đi."

Mặc dù bả vai của Cố Hiểu Mộng còn đang bị người ta vặn, cảm giác đau nhức như sắp bị vặn gãy, nhưng nàng không hề rên rĩ một tiếng nào, cũng nở nụ cười lạnh, nói: "Mấy tên bại hoại như các người cũng xứng để điều tra tôi sao?"

Cố Hiểu Mộng được sắp xếp ở trong một tầng hầm bán ngầm của tòa nhà này, ẩm ướt đến đáng sợ. Ga giường tàn tạ kia chỉ cần đưa tay sờ một chút thì trên tay đã dính đầy hơi nước. Trong phòng thậm chí ngay cả một tủ sách hoặc một chiếc ghế cũng không có. Ngoài một cái giường đơn, một chiếc tủ đầu giường và một chiếc đèn ngủ thì không còn bất cứ vật dụng nào khác. Trong vali chỉ còn lại mấy bộ quần áo. Sách, ảnh chụp, báo chí và tất cả những thứ khác đều đã bị lấy đi.

Cố Hiểu Mộng ngồi ở mép giường, cởi áo khoác ra. Nàng yên lặng nhìn quân hàm vàng óng trên cổ áo khoác quân phục. Nàng chợt nhớ tới hôm đó, nàng nói với Lý Ninh Ngọc sau này sẽ để cô lấy bộ đồ thiếu tướng này đi nhóm lửa. Bây giờ, chiếc áo quân phục này, thực sự chỉ có thể dùng để nhóm lửa thôi.

Nhớ đến Lý Ninh Ngọc, trong mắt Cố Hiểu Mộng không kiềm được lại đong đầy những giọt lệ. Nàng ngẩng đầu nhìn khung cửa sổ nhỏ trên tường, sao lại giống khung cửa sổ trong Cầu trang đến như vậy chứ. Cố Hiểu Mộng nghĩ, có lẽ lúc đó Lý Ninh Ngọc cũng nhìn qua cửa sổ giống như thế nay. Loại cảm giác muốn dãy dụa nhưng lại vô lực kia, bây giờ Cố Hiểu Mộng mới có thể đồng cảm sâu sắc. Lúc đó, Lý Ninh Ngọc có tình cảm đối với mình không? Nếu như có, trong giờ phút tử biệt này, có phải cũng cảm thấy tuyệt vọng giống như nàng không?

Nhưng rốt cuộc vẫn có chút khác biệt, sự quyến luyến giữa 20 ngày và 8 năm, cuối cùng cũng không giống nhau.

Ít nhất bây giờ Lý Ninh Ngọc vẫn còn sống. Cô đang sống trong thời đại hoàng kim mà cô tự tay tạo ra, nghênh đón thắng lợi mà cô chờ đợi đã lâu. Cô có được thứ mà cô theo đuổi trong suốt một đời. Vậy là đủ rồi.

Hốc mắt của Cố Hiểu Mộng tích đầy những giọt lệ. Nàng đột nhiên cười lớn, chỉ là mới cười được một tiếng thì nước mắt đã lập tức chảy xuống.

Thế nào là ưu tiên hàng đầu? Chính là nàng và Lý Ninh Ngọc có thể bên cạnh, chăm sóc nhau cả đời. Nhưng nếu điều này không cách nào thực hiện được, vậy thì chỉ cần Lý Ninh Ngọc sống tốt thì trong lòng Cố Hiểu Mộng, cũng xem như đặt song song với vị trí ưu tiên hàng đầu mà trước đó nàng đã đặt ra rồi.

Người của Trung Thống thỉnh thoảng sẽ đưa Cố Hiểu Mộng đến phòng điều tra để thẩm vấn. Tuy nói là thẩm vấn nhưng bọn họ cũng không tra tấn nàng, có vài câu hỏi họ cũng chẳng thèm quan tâm đến đáp án, giống như nhốt Cố Hiểu Mộng ở chỗ này không phải vì muốn thực sự thẩm vấn nàng mà chỉ đơn giản là giam giữ nàng thôi. Nhưng bởi vì hai phía Trung Thống và Quân Thống tích tụ thù oán đã lâu, lại cộng thêm bình thường Cố Hiểu Mộng ương ngạnh đã quen, đối với đám người này, trước giờ đều tỏ vẻ khinh miệt và xem thường, cho nên bây giờ Cố Hiểu Mộng rơi vào tay bọn họ, dĩ nhiên cũng không thoải mái gì.

Thời gian bọn họ đưa Cố Hiểu Mộng đi thẩm vấn không hề có quy luật, có khi là nửa đêm kêu Cố Hiểu Mộng đến phòng điều tra tra hỏi, có lúc nửa đêm vừa mới tra hỏi xong thì sáng sớm hôm sau lại kêu đến hỏi tiếp, buổi chiều lại hỏi, từng người thay phiên nhau, khiến cho Cố Hiểu Mộng nhiều ngày liên tiếp căn bản không có thời gian chợp mắt.

Dù cho có mệt mỏi hơn nữa thì câu trả lời của Cố Hiểu Mộng trước giờ chưa từng lộ ra bất cứ sơ hở nào, có khi thậm chí có thể trong vài câu nói, suy đoán ra được một vài tin tức hữu dụng.

Cố Hiểu Mộng đoán, tình cảnh của mình có liên quan trực tiếp đến baba. Tình trạng của ông không tốt lắm, chắc có liên quan đến chuyện đấu tranh nội bộ, nhưng vì có bối cảnh sâu nên cũng không đến mức quá tệ.

Baba không bị nguy hiểm tính mạng khiến cho Cố Hiểu Mộng thở phào một hơi.

Người có khẩu vị kén ăn như Cố Hiểu Mộng đến nơi này, mỗi ngày đều không ăn được quá nhiều thứ. Hơn nữa, mỗi bữa đều có người đưa cơm đến, đa số các bữa ăn chỉ có duy nhất một chén cơm trắng hoặc tốt hơn là có thêm vài món ăn đã lạnh ngắt. Vốn dĩ lượng cơm mỗi ngày đưa đến đã rất ít rồi, nhưng khi Cố Hiểu Mộng ăn xong thì đều còn lại hơn một nửa.

Tính khí của Cố Hiểu Mộng dần bị mài mòn. Thay vì nói là mài mòn, chi bằng nói là bây giờ nàng không còn sức lực và tâm trí tranh cãi với những người này nữa rồi.

Chỉ có một lần, Cố Hiểu Mộng bạo phát.

Hôm đó, sau khi nàng từ phòng thẩm tra đi về phòng mình, lúc đi ngang qua một văn phòng, nàng nhìn xuyên qua cửa sổ, trong lúc vô tình lại nhìn thấy trên bàn có đặt một tờ báo, trên tờ báo chất một đống xương gà và vài vỏ hạt dưa, vỏ đậu phộng. Tờ báo kia bị dầu thấm đẫm trông vô cùng bẩn thỉu. Cố Hiểu Mộng vừa nhìn một cái thì đã trông thấy bài văn đó. Cho dù nó đã bị ô uế đến mức dường như không còn nhìn rõ được chữ viết ban đầu nhưng Cố Hiểu Mộng chỉ cần liếc mắt một cái là đã nhìn ra ngay.

Cố Hiểu Mộng bỗng nhiên quay người, "ầm" một tiếng đẩy cánh cửa phòng kia ra. Tiếng động khiến cho đám đặc vụ đi bên cạnh nàng hơi sửng sốt một chút. Trong văn phòng, cái người đã uống say đang tựa trên ghế nằm ngủ thì bị Cố Hiểu Mộng xông đến dọa cho giật mình nhảy ra khỏi ghế. Cố Hiểu Mộng lập tức hất những thứ rác rưởi trên tờ báo xuống đất, nhìn chằm chằm bài văn đó. Ánh mắt đột nhiên tràn đầy dịu dàng. Sau khi nàng chăm chú nhìn ngắm bài văn đó vài giây, tức giận hung hăng nói :"Đây có phải là đồ của tôi không?"

Cái người bị đánh thức kia cũng vô cùng tức giận, giọng nói hung ác: "Thì sao, tới giờ này rồi mà còn tưởng rằng bản thân là Cố tướng quân không thể động vào sao?" Nói xong, hắn giật lại tờ báo kia, vo tròn lại, ném xuống đất.

Một bàn tay của Cố Hiểu Mộng trực tiếp đánh lên mặt của người kia, phát ra âm thanh vô cùng giòn giã. Người kia bị đánh thì sửng sốt vài giây, lập tức trở tay tát trả Cố Hiểu Mộng. Một cái tát này của hắn đã dùng hết sức lực, đánh lên mặt của Cố Hiểu Mộng, phát ra âm thanh trầm thấp, giống như đã trực tiếp đánh thẳng vào xương cốt. Gương mặt của Cố Hiểu Mộng trong nháy mắt sưng lên, khóe miệng cũng rách toạc một đường, máu tươi tanh nồng mùi rỉ sắt từ trong miệng chảy ra. Cố Hiểu Mộng chỉ cảm thấy trong nháy mắt đó, trước mặt chỉ còn lại một mảng trắng xóa, dưới chân hơi lảo đảo một chút.

Tên đặc vụ đứng phía sau vội vàng đỡ lấy nàng, kéo nàng ra ngoài. Cố Hiểu Mộng cũng không thèm quan tâm sự đau đớn trên mặt. Nàng chỉ muốn lấy tờ báo kia về, nhưng khi nàng quay đầu nhìn lại, tờ báo kia, đã bị người ta giẫm nát dưới chân.

Hôm đó, cơm trưa và cơm tối đều không có người đưa đến. Dù có đưa thì Cố Hiểu Mộng cũng ăn không vào. Nàng về đến phòng, nhổ ra một ngụm máu đặc, trong miệng có một vết thường không nhỏ, chảy ra không ít máu tươi, nửa bên mặt đều sưng vù lên.

Nước mắt của Cố Hiểu Mộng lại càng tuôn ra không ngừng, không phải vì đau nhức, mà là vì nỗi nhớ mong duy nhất mà nàng lưu giữ, sự dịu dàng chỉ thuộc về một mình nàng, bây giờ cũng không còn nữa rồi.

Bản thảo đó, Cố Hiểu Mộng có thể đọc thuộc từng chữ, thậm chí từng dấu chấm câu. Cố Hiểu Mộng hơi hé miệng, thấp giọng thì thào: "Không biết người khác như thế nào, nhưng trong sinh mệnh của tôi, không thể không có ngọn gió xuân."

Câu nói này, là câu đầu tiên trong bài văn. Trên tờ báo, câu nói này nằm lẻ loi, trơ trọi ở đoạn thứ nhất, thể hiện rõ tầm quan trọng của nó.

Lý Ninh Ngọc từng nói với Cố Hiểu Mộng, cả người nàng đều ngập tràn tự do và ánh sáng, là ngọn gió xuân thổi vào lòng cô.

Sức khỏe của Cố Hiểu Mộng, sau trận bệnh đó, nhanh chóng trở nên suy yếu.

Từ lúc đi đến Đài Bắc, ở trong tầng hầm vừa oi bức vừa ẩm ướt này, cơn ho khan của Cố Hiểu Mộng càng ngày càng nghiêm trọng hơn. Sau khi bị đánh đợt đó, trong miệng của Cố Hiểu Mộng cũng đã bị nhiễm trùng, vết loét dần dần lan rộng, cuống họng cũng bắt đầu vô cùng đau nhức. Nhìn thấy miệng của nàng sưng to, đám người kia mấy ngày tiếp theo cũng không bắt nàng đến phòng thẩm tra nữa, nhưng cũng không thèm quan tâm đến nàng. Cơm có người đưa đến, đến đúng giờ thì có người dọn đi, cũng không để ý xem nàng có ăn hay không.

Lúc đầu khi đưa cơm đến, Cố Hiểu Mộng còn có thể vùng vẫy uống vài hớp nước. Càng về sau, cơ thể của nàng ngày càng nặng dần, cả người bắt đầu nhức mỏi, cuống họng vô cùng đau đớn, tần suất ho khan cũng đột ngột tăng lên, hơn nữa đôi lúc còn cảm thấy không thở được. Cố Hiểu Mộng mơ mơ màng màng, không biết đã ngủ hay vẫn còn thức, chỉ là không ngừng ho khan. Mỗi khi nàng ho một cái, giống như đã rút hết toàn bộ khí lực trong người, cổ họng phát ra âm thanh dọa người.

Cố Hiểu Mộng cuộn mình trên giường, nhắm mắt lại, cảm thấy có một chiếc xe lửa "Tu tu" sắp tông vào nàng. Cố Hiểu Mộng bắt đầu xuất hiện ảo giác. Trong cơn mơ màng, nàng nhìn thấy mẹ của mình ngồi cạnh giường, dùng bông y tế thấm rượu trắng, từng chút từng chút lau người cho nàng. Chiếc giường biến thành chiếc giường lớn, khô ráo, thoải mái ở trong ngôi nhà cũ, trong phòng tràn đầy ánh nắng, khắp không gian được bao phủ bởi mùi hương đàn mộc, khiến cho người ta cảm thấy bình tĩnh lại.

Khi còn bé, mỗi lần Cố Hiểu Mộng phát sốt, mẹ của nàng đều sẽ nhẹ nhàng xoa rượu khắp cơ thể của nàng. Cố Hiểu Mộng cảm nhận được mẹ mình đang dịu dàng chỉnh lại những sợi tóc lòa xòa trước trán của nàng. Từng đầu ngón tay chạm vào trán đều mang theo sự ôn nhu.

"Mama." Cố Hiểu Mộng mơ mơ màng màng lẩm bẩm: "Con khỏe hơn nhiều rồi."

Chỉ là, trong hiện thực, tóc của nàng đã bị mồ hôi thấm ướt, bết dính trên trán.

Trong cơn mơ màng, nàng lại nhìn thấy Lý Ninh Ngọc. Lý Ninh Ngọc cúi người gọi nàng: "Hiểu Mộng, Hiểu Mộng." Sau đó lại đặt tay lên trán nàng, cau mày nói: "Sao lại để nóng đến như vậy chứ?"

Trong ảo giác, Cố Hiểu Mộng làm nũng nói một câu: "Chị, em thực sự rất khó chịu." nhưng trong hiện thực, đôi môi của nàng lại dính chặt vào nhau, một chữ cũng không thể thốt ra.

Trong lúc nửa tỉnh nửa mê tuyệt đối không nhắc đến Lý Ninh Ngọc, chính là kỹ năng mà Cố Hiểu Mộng đã khổ luyện trong những năm tháng này.

Đợi đến khi Cố Hiểu Mộng mấy ngày liền không ăn gì cả, hô hấp cũng chỉ còn lại chút hơi tàn, người đến đưa cơm cuối cùng cũng đã nhận ra được mức độ nghiêm trọng của chuyện này.

Bác sĩ đi tới đi lui xung quanh Cố Hiểu Mộng dường như đã rơi vào trạng thái hôn mê, nhẹ nhàng mở miệng của nàng ra, dùng một chiếc đèn pin lớn cỡ thân bút chiếu vào, nhìn một chút vết thương trong miệng cùng cuống họng đã lở loét của nàng, nói: "Khí quản và cuống họng của cô ấy đã bị viêm. Nhìn từ nhiệt độ cơ thể và mức độ ho khan, có lẽ phổi cũng bị như vậy, tương đối nghiêm trọng."

Bác sĩ truyền chút dịch cho nàng, dặn dò người canh khoảng một tiếng sau thì đến tiêm thuốc cho nàng. Cửa bị "ầm" một tiếng đóng lại. Trong căn phòng nho nhỏ chỉ còn lại một mình Cố Hiểu Mộng, làm bạn với nàng, chỉ có ngọn đèn tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt nơi đầu giường và những tiếng ho khan như muốn xé toạt lồng ngực kia.

Sau trận bệnh này, Cố Hiểu Mộng lại gầy đi một vòng, cho dù sau này đã khỏi bệnh nhưng nàng vẫn không thể béo lên được nữa.

Cơn ho khan của nàng còn nghiêm trọng hơn cả lúc bị bệnh, cộng thêm không gian oi bức, ẩm ướt khiến nàng có loại cảm giác không thể thở nổi, cho nên cũng thường xuyên ho khan.

Những người kia ngày càng ít tra hỏi Cố Hiểu Mộng, giống như không còn bao nhiêu hứng thú đối với nàng nữa. Cả ngày nàng đều ở trong căn phòng đó, đôi khi có thể yêu cầu đem đến vài quyển sách để đọc một chút, đôi khi cũng có thể đi loanh quanh trong viện. Phần lớn thời gian, nàng đứng trước cửa sổ, nhìn đến ngẩn người, hoặc là nằm nghiêng trên giường, đối diện với vách tường, dùng ngón tay vạch từng nét lên tường.

Nàng bắt đầu nhớ lại cuộc sống trước đây, bắt đầu từ căn biệt thự mà nàng sống lúc nhỏ, nhớ đến chiếc bóng lướt qua khi mẹ đi ngang qua cửa sổ phòng nàng, nhớ đến bậc thềm đá ở cổng lớn mà nàng hay ngồi để chờ mẹ về nhà.

Lúc ngồi trên bậc thang chờ đợi, cuối cùng nàng sẽ nghĩ, khi mình trưởng thành sẽ trở thành người như thế nào, có thể trở nên thành công giống như baba không, có thể gặp được một người mà mỗi ngày mình đều không cần ngồi chờ đợi không.

Nghĩ đến đây, nàng chợt nhớ đến Lý Ninh Ngọc. Thật ra cho dù suy nghĩ đến chuyện gì đi nữa thì nàng đều sẽ liên hệ đến Lý Ninh Ngọc.

Nghĩ đến Lý Ninh Ngọc, Cố Hiểu Mộng lại nở nụ cười. Chắc chắn lúc nhỏ mình chưa bao giờ nghĩ đến sau khi mình lớn lên lại gặp được một người chỉ có thể ngắm nhìn không thể truy cầu như vậy đâu nhỉ? Tất cả sự tốt đẹp đều quy tụ trên người cô. Nếu như lúc bé nàng biết sau khi lớn lên sẽ gặp được Lý Ninh Ngọc, chỉ sợ cả tuổi thơ của nàng đều sẽ vui vẻ hơn vài phần rồi.

Nhưng thứ càng đẹp đẽ thì khi mất đi lại càng cảm thấy đau đớn.

Cuối cùng, vào năm 1949, Cố Hiểu Mộng đã có thể rời khỏi chỗ này.

Cố Hiểu Mộng đi ra cổng chính của viện, nhìn thấy Tống Chước đang đứng đợi ở ngoài cửa. Trong thoáng chốc, Cố Hiểu Mộng lại cảm thấy như mình còn đang ở Nam Kinh.

Tống Chước là người quen đầu tiên mà Cố Hiểu Mộng gặp được từ sau khi đặt chân đến Đài Loan. Cố Hiểu Mộng đặt tay lên lông mày, híp mắt nhìn cậu ta. Nàng vẫn chưa thể thích ứng được với ánh sáng mạnh như thế này.

Trong tay Cố Hiểu Mộng không mang theo thứ gì cả, ngay cả một bộ đồ cũng không có. Báo chí của nàng, hình của nàng, đều không còn nữa. Bộ quân phục kia, bị nàng nhét vào một góc trong căn phòng u ám đó, không mang ra ngoài.

Tống Chước yên lặng nhìn Cố Hiểu Mộng một lúc lâu. Lần đầu tiên nhìn thấy Cố Hiểu Mộng, cậu ta cũng không nhận ra. Nàng gầy đi nhiều lắm, màu da cũng trở nên trắng bệch, quần áo trên người rộng thùng thình, không hề vừa vặn. Tống Chước không dám tin đây chính là Cố Hiểu Mộng đã từng giống như muốn giẫm cả thế giới dưới chân.

Cậu ta vẫn còn nhớ. Sau khi thắng lợi, ngày nhận quân hàm, nàng mặc trên người một bộ quân phục thẳng thóm, vô cùng tự tin đứng ở đó. Mặc dù nàng là nữ quân nhân đầu tiên nhận được quân hàm thiếu tướng nhưng nàng lại không hề ngại ngùng một chút nào, giống như không phải chiếc quân hàm này mang lại vinh dự cho nàng mà là chính bản thân nàng đã khiến cho nó phát ra ánh sáng vậy. Nhưng Cố Hiểu Mộng của hôm nay, cả người đầy mệt mỏi, quanh thân như bị một lớp vải đen bao bọc, không chút sức sống.

Câu đầu tiên Cố Hiểu Mộng nói khi gặp Tống Chước chính là: "Baba đâu?"

Tống Chước nói: "Bác trai, cũng vừa rút lui đến Đài Bắc."

Ngồi trong xe, Cố Hiểu Mộng yên lặng nhìn ra bên ngoài cửa sổ đến ngẩn người, không nói một lời.

Thế giới bên ngoài cửa sổ rộn rộn ràng ràng, nhộn nhộn nhịp nhịp. Nàng yên lặng ngắm nhìn hàng cây, con người và đồng ruộng bên ngoài cửa sổ, chỉ cảm thấy tất cả đều trở nên vô cùng xa lạ.

"Dân Quốc dời đô đến Đài Bắc." Tống Chước nói.

"Ừ."

"Hồi tháng 10, Đảng Cộng Sản ở Bắc Bình thành lập chính phủ mới, nước Cộng Hòa." Tống Chước nói.

Tất cả những chuyện này, Cố Hiểu Mộng đều không biết.

Cố Hiểu Mộng xoay đầu lại, nhìn Tống Chước, hỏi: "Đã thành lập rồi sao?" Sau đó, nàng lại cười một tiếng. Tiếng cười này vừa phát ra, Cố Hiểu Mộng phát hiện bản thân không còn kìm chế được nữa, liên tục cười lớn. Quả nhiên, nàng lại rơi nước mắt rồi. Cho dù nàng vui vẻ, nàng vẫn rơi nước mắt.

Trong lòng nàng âm thầm thở dài một hơi. Rốt cuộc Lý Ninh Ngọc cũng thực sự nghênh đón thời đại hoàng kim rồi. Cô từng nói, nếu như người mình yêu thương thấy được thì có nghĩa bản thân cũng nhìn thấy được. Bây giờ, Lý Ninh Ngọc đã nhìn thấy vầng mặt trời mọc lên ở phía đông rồi, nàng cũng nhìn thấy.

"Anh có muốn trở về không?" Cố Hiểu Mộng hỏi Tống Chước, cho dù nàng biết Tống Chước chủ động rút lui đến chỗ này.

"Đài Loan bị phong tỏa rồi, đừng nói là người không đi ra được, ngay cả tin tức quảng bá phía bên kia cũng không thể truyền qua đây."

Tống Chước nói xong câu này, Cố Hiểu Mộng lại im lặng.

Nàng cảm thấy ánh nến cuối cùng trong lòng mình, cũng bị thổi tắt rồi.

Để có thể nhìn thấy một chùm sáng, một đám lửa gian nan đến vậy nhưng thổi tắt nó, lại dễ dàng đến như thế.

Cho đến ngày Quốc Dân Đảng chính thức tuyên bố dời đô đến Đài Loan, Lý Ninh Ngọc rốt cuộc mới tin tưởng, Cố Hiểu Mộng thực sự sẽ không đến nữa. Trước thời điểm này, ngày ngày cô đều đang ngóng trông nàng.

Lý Ninh Ngọc vẫn luôn không dọn khỏi căn tứ hợp viện kia, cho dù căn viện đó đã trở thành tài sản chung, nhưng cô liên tục xin ở thêm một khoảng thời gian nữa. Bởi vì ở Bắc Kinh, địa chỉ duy nhất mà Cố Hiểu Mộng biết, chính là chỗ này.

Bởi vì lâu ngày không được dọn dẹp, rất nhiều hoa cỏ trong viện đều đã bị héo úa, trên bệ cửa sổ cũng đã không còn những món đồ chơi xanh xanh đỏ đỏ nữa. Cá vàng trong vại nước cũng đã được cô đưa cho hàng xóm, bây giờ bên trong chỉ còn lại những chiếc lá rụng trôi lửng lơ.

Nhiều lúc, Lý Ninh Ngọc sẽ khoanh tay đứng trên bậc thang của căn tứ hợp viện, yên lặng nhìn ra cửa lớn, giống như chỉ cần cô đứng ở chỗ này đợi, tiếng gõ cửa phía bên ngoài sẽ vang lên vậy.

Vị đại lãnh đạo kia đã từng đến tìm cô một lần, nói là liên quan đến chuyện khen thưởng.

Sau khi giành thắng lời, phía trên muốn khen thưởng một nhóm người ưu tú từng làm công tác ngầm. Lý Ninh Ngọc hoàn toàn đủ tư cách.

"Bởi vì đồng chí Dân Chương và đồng chí Hiểu Mộng đến giờ vẫn chưa thể rút lui, để bảo đảm an toàn cho họ ở mức độ cao nhất, chúng tôi cho rằng vẫn không nên tiến hành khen thưởng công khai đối với cô..."

Lý Ninh Ngọc gật gật đầu, nói: "Tôi phục tùng quyết định của tổ chức. Nhưng tôi có một việc muốn nhờ ngài. Nếu như ngài có bất cứ tin tức gì của đồng chí Cố Hiểu Mộng, xin hãy nói cho tôi biết."

Từ sau khi nhận được cuộc điện thoại đêm khuya của Cố Hiểu Mộng, Lý Ninh Ngọc trở nên vô cùng nhạy cảm với tiếng chuông điện thoại. Bất cứ một tiếng chuông điện thoại nào reo lên đều sẽ khiến mí mắt của cô giật một cái.

Cô vừa sợ hãi, lại vừa trông mong, đến mức mỗi đêm cho dù đã ngủ thiếp đi nhưng vẫn để lại một bên tai lắng nghe tiếng điện thoại đặt bên cạnh.

Cô tưởng rằng sau khi mình đã nản lòng thì chấp niệm của cô đối với tiếng chuông điện thoại sẽ có thể buông xuống, nhưng không phải vậy.

Hơn nữa, chấp niệm của cô, dường như không chỉ có mỗi tiếng chuông điện thoại.

Sau khi Tân Trung Quốc thành lập, cấp trên sắp xếp Lý Ninh Ngọc đến cục An toàn nhậm chức nhưng bị Lý Ninh Ngọc khéo léo từ chối. Sau đó, cô đến viện khoa học xin việc.

Trong lúc Cố Hiểu Mộng mặc sức tưởng tượng về cuộc sống trong tương lai, nàng đã nghĩ Lý Ninh Ngọc nên tập trung vào việc nghiên cứu, phóng thích bộ não thiên tài của cô. Cố Hiểu Mộng đã từng nhắc đến một lần. Khung cảnh đó, Lý Ninh Ngọc vẫn luôn ghi nhớ. Thật ra lúc đó Lý Ninh Ngọc đối với sự trêu chọc và nói chuyện phiếm của Cố Hiểu Mộng có vẻ giống như thờ ơ cho có, đầu óc chỉ tập trung vào công tác. Nhưng bây giờ cô nhớ lại, rất nhiều, rất nhiều chi tiết mà Cố Hiểu Mộng từng nhắc đến, cô đều luôn nhớ kỹ.

Trong viện khoa học có không ít học giả mệt mỏi, phong trần, vội vã từ nước ngoài quay về. Bọn họ trong lúc nhất thời vẫn chưa thể dung nạp vào trạng thái sinh hoạt mộc mạc trong nước, rất nhiều người vẫn còn mặc tây trang, thắt cà vạt, đội mũ dạ, xịt nước hoa.

Một ngày nọ, một nhà nghiên cứu khoa học vừa mới từ HongKong vội vã quay về nước, đến viện khoa học báo danh. Người này trông rất trẻ trung, ăn mặc cũng rất cầu kỳ, hoàn toàn không giống với dáng vẻ của người say mê nghiên cứu, không lo chuyện bao đồng. Lý Ninh Ngọc đối với tính cách, vẻ ngoài, trang phục của người khác đều không muốn quan tâm quá nhiều. Lúc người này đến chỗ của cô, chào hỏi cô, Lý Ninh Ngọc chỉ tính đưa tay ra nắm một chút rồi thôi. Nhưng khi người kia đến gần, trên người tản ra từng làn nước hoa có mùi hương dưa lưới, khiến cho Lý Ninh Ngọc cảm thấy lồng ngực như bị một tảng đá lớn chèn ép.

Lý Ninh Ngọc không biết tại sao đàn ông lại dùng nước hoa có mùi hương ngọt ngào như thế. Mùi hương này, trải qua nhiều năm như vậy, cô chỉ ngửi thấy trên người của Cố Hiểu Mộng.

Loại mùi hương này, cũng chỉ khi phảng phất trên người của Cố Hiểu Mộng mới khiến cô cảm thấy dễ ngửi. Bởi vì không có ai có thể chịu được mùi hương ngọt ngào, kiều diễm như thế này.

Nhắc tới cũng thật kỳ lạ. Xưa nay Lý Ninh Ngọc không thích xịt nước hoa. Cô vẫn luôn không thích những mùi hương quá nồng, xung quanh bản thân không có bất cứ mùi hương gì là tốt nhất. Nhưng mùi hương trên người Cố Hiểu Mộng lại khiến cho cô rất yêu thích, cho dù là khi nàng xịt nước hoa hay là mùi hương cơ thể của nàng.

Còn nhớ lúc đầu khi thân mật, Lý Ninh Ngọc đã từng nói rất nhiều lần, hôn Cố Hiểu Mộng có cảm giác như đang ăn dưa lưới vậy.

Cố Hiểu Mộng biết Lý Ninh Ngọc không quá thích ăn đồ ngọt. Nàng không biết câu đánh giá này của Lý Ninh Ngọc là khen hay là chê, thế là nàng nâng gương mặt của Lý Ninh Ngọc lên, rất chân thành hỏi cô: "Chị có thích không?"

Lý Ninh Ngọc "Ừ" một tiếng, bày tỏ sự khẳng định, lại tiếp tục hôn nàng.

Khi đó, Cố Hiểu Mộng có lẽ đã hiểu sai về quan hệ logic. Trước giờ không phải vì mùi hương nên mới yêu thích em, mà bởi vì yêu thích em mới thích luôn cả mùi hương ấy.

Cũng có thể là do yêu thích mùi hương của Cố Hiểu Mộng, khi hai người ở chung với nhau, cho dù là trước khi ngủ, hay là vừa tỉnh dậy, Lý Ninh Ngọc đều thích dùng chóp mũi nhẹ nhàng cọ vào cổ và sau vành tai của Cố Hiểu Mộng, giống như một chú mèo con ngoan ngoãn. Mùa đông, chóp mũi của Lý Ninh Ngọc sẽ hơi bị nhiễm lạnh, cọ trên cổ sẽ gây ra cảm giác ngứa ngáy, khiến cho Cố Hiểu Mộng bật cười khanh khách.

Những hồi ức từng vuốt ve, an ủi cô, đến hôm nay lại trở thành một lỗ hỏng thật sâu nơi lồng ngực.

Đột nhiên, Lý Ninh Ngọc cảm thấy muốn nôn mửa. Cô che miệng, cách xa đồng nghiệp kia mấy bước, nói một câu: "Thực sự xin lỗi, tôi có chút không thoải mái." Sau đó nhanh chân bước đến nhà vệ sinh.

Lý Ninh Ngọc cũng không có nôn ra, không phải mùi hương kia khiến cho cô buồn nôn, mà là sự thống khổ khiến cho dạ dày của cô quặn thắt từng cơn. Lý Ninh Ngọc rửa mặt, rửa trôi mùi hương quanh quẩn nơi đầu mũi. Cô ngước mặt lên, nhìn tấm gương một chút. Cô đã 40 tuổi rồi, đã không còn trẻ trung gì nữa, nhưng tại sao vẫn không thể sống một cuộc sống bình thường chứ?

Người chỉ có một thân một mình, đều dựa vào chấp niệm để sống tiếp sao? Hay là dựa vào hồi ức để kéo dài sự sống? Lý Ninh Ngọc dùng những giọt nước còn đọng trên tay, chà xát lên tấm gương một chút. Gương mặt của cô, trong nháy mắt bỗng trở nên mơ hồ.

Người chỉ có một thân một mình, có lẽ đều như thế này, mơ màng sống tiếp.

Lúc Cố Hiểu Mộng nhìn thấy Cố Dân Chương, đã là chuyện của hai tháng sau khi nàng được thả tự do.

Bây giờ Cố Dân Chương đang bị giam lỏng, Cố Hiểu Mộng cũng không thể tùy ý thăm viếng. Nhưng trái lại có không ít bạn già của Cố Dân Chương vô cùng chiếu cố Cố Hiểu Mộng. Nàng có thể bình an ra ngoài, trong đó có không ít công lao của những người này.

Lúc Cố Hiểu Mộng nhìn thấy Cố Dân Chương, hai người đều lộ ra vẻ kinh ngạc và đau lòng. Hai người họ đều đã thay đổi quá nhiều. Tóc của Cố Dân Chương dường nhứ đã bạc trắng, đôi mắt cũng trở nên có chút đục ngầu, nhưng ông vẫn là dáng vẻ bình tĩnh, không biết sợ như xưa, đứng ở nơi đó, mãi mãi là điểm tựa của Cố Hiểu Mộng.

Nhìn ra được, Cố Dân Chương đã chau chuốt lại một chút. Quần áo vô cùng sạch sẽ, râu ria cạo nhẵn bóng, tóc được chải chỉnh tề. Ông cố hết sức thể hiện bản thân những ngày tháng này trôi qua cũng không tệ, nhưng một vết xước ngắn trên gương mặt của ông đã xé tan lớp mặt nạ mà ông đeo lên. Nhưng nàng không nói, cũng không hỏi. Nàng biết, đó là vết thương do dao cạo râu quá cùn không thể khống chế lực độ để lại. Nàng cố gắng muốn giữ lại cho baba của mình phần tôn nghiêm này, cũng giống như ba của nàng không nhắc một chữ đến Lý Ninh Ngọc, cũng không hỏi nàng tại sao lại ốm đến như vậy.

Họ cũng không kể lể những chuyện đã xảy ra trong khoảng thời gian này. Bây giờ ngồi kể lại, cũng đã không còn ý nghĩa gì nữa rồi. Cố Dân Chương chỉ nói cho Cố Hiểu Mộng một vài người bạn thân thiết có thể tin cậy được, dặn dò nàng nếu sau này gặp chuyện gì khó thì có thể đi tìm họ. Cố Dân Chương còn dặn dò một câu. Ông ấy vẫn còn chuyện là ăn ở Đài Loan. Chuyện làm ăn lúc đầu, có thể quy ra thành tiền thì quy ra thành tiền, có thể bị chiếm thì đã bị chiếm, nhưng từ khi ông bị đưa đến Đài Loan thì tất cả đều đã tan thành mây khói hết rồi.

"Những tài sản kia, bác ấy đã giao cho con rồi, cũng đã có dặn dò con." Cố Hiểu Mộng siết chặt đôi tay của Cố Dân Chương, vừa khóc vừa nói: "Baba, khi nào người mới có thể về nhà?"

Cố Dân Chương mỉm cười, sờ đầu Cố Hiểu Mộng, nói: "Sắp rồi, sẽ nhanh thôi."

Thời gian gặp mặt rất ngắn. Lúc chia tay, Cố Dân Chương kêu Cố Hiểu Mộng lại, nói ra sự lo lắng mà ông đã kìm nén rất lâu: "Hiểu Mộng, chìm nổi phiêu bạt, bi hoan li hợp, có những chuyện phải buông bỏ thì mới có thể bước tiếp."

Nước mắt của Cố Hiểu Mộng lại rơi xuống. Nàng quay mặt lại nhìn Cố Dân Chương, cũng không gật đầu. Giờ phút này, nàng thực sự rất muốn hỏi ba của mình. Đã lâu như vậy rồi, ông ấy có quên được mẹ của nàng sao? Nếu đã quên, tại sao nhiều năm như vậy ông vẫn luôn cô đơn lẻ bóng. Nếu như không thể quên, nhiều năm như vậy, ông làm thế nào để bước tiếp?

"Vậy người thì sao?" Cố Hiểu Mộng vẫn hỏi ra. Giờ phút này, dường như bọn họ đã trở nên bình đẳng, giống như hai người bạn ôm lấy nhau, sưởi ấm nhau, liếm láp vết thương cho nhau.

"Ta có con." Cố Dân Chương nói.

Cố Hiểu Mộng cười khổ một cái. Họ vẫn có sự khác biệt. Ba của nàng vẫn còn có nàng, xem như kéo dài nỗi nhớ mong đối với người vợ quá cố. Còn nàng thì sao, nàng thậm chí ngay cả một bức hình cũng không có, chỉ có một đoạn hồi ức không thể nắm bắt.

"Nếu như không có con thì sao? Nếu như người biết rõ mẹ con đang ở nơi đó, nhớ mong vô tận, nhưng hai người lại năm dài tháng rộng vẫn không thể gặp mặt nhau thì sao?" Cố Hiểu Mộng nói.

Lông mày của Cố Dân Chương nhíu chặt. Ông vô cùng lo lắng cho Cố Hiểu Mộng. Trước giờ Cố Hiểu Mộng đều đi thẳng về thẳng, luôn thể hiện ra dáng vẻ kiên cường. Nàng làm chuyện gì, yêu thích thứ gì, thì sẽ cho đi hết tất cả, không hề giữ lại bất cứ thứ gì, oanh oanh liệt liệt. Nhưng nàng không biết làm như vậy, khi gặp một ngoại lực to lớn tác động, sẽ ngay lập tức bị bẻ gãy.

"Hiểu Mộng, sự kiên cường thực sự, không phải thép, mà là nước. Trải qua mùa đông cắt da cắt thịt, nước không ngừng thay đổi trạng thái của mình cho nên mới có thể mãi mãi đợi được đến mùa xuân để chảy về biển."

"Nhưng mà baba à, nếu không có dòng sông, cứ để nó chảy trong vô vọng, lan tràn ra khắp nơi như thế, thì cho dù là mùa nào thì cũng đều sẽ bị khô cạn thôi."

Không có dòng sông chầm chậm chảy, chính là trạng thái bây giờ của Cố Hiểu Mộng.

Cố Hiểu Mộng sợ nóng, nhưng Đài Bắc chỉ có mùa hè không có mùa đông.

Cố Hiểu Mộng không có chuyện gì làm thì cả ngày chui rúc trong nhà. Cho dù đã thức dậy, nàng cũng sẽ không bao giờ kéo rèm cửa ra. Rèm cửa của phòng ngủ có màu đỏ sậm, không quá dày, sau khi kéo lại, trong phòng bị lấp đầy trong ánh sáng đỏ sậm. Cố Hiểu Mộng cũng không bật đèn. Trong hoàn cảnh không sáng sủa này, nàng sẽ đọc sách hoặc vẽ tranh. Bởi vì trời nóng, nàng luôn đặt một thau nước đá trong phòng. Nước đá tan thì nàng sẽ kêu người hầu đi thay một thau khác.

Trên mặt bàn của Cố Hiểu Mộng đặt một khung hình vô cùng tinh xảo, bên trong đặt một bức tranh nho nhỏ, vẽ một người phụ nữ đang đứng cạnh lan can, dáng người thẳng táp, tú lệ. Chỉ là, người trong bức tranh lại không có ngũ quan, chỉ có hình dáng.

Tống Chước từng nhìn chăm chú bức tranh này rất lâu, hỏi Cố Hiểu Mộng: "Tại sao lại không vẽ ngũ quan cho Lý tiểu thư?" Cho dù không có ngũ quan, Tống Chước vẫn nhìn ra được người trong bức tranh kia là ai. Bởi vì Cố Hiểu Mộng vẽ ra thân thể và khí chất kia thực sự quá sinh động.

"Không có ai có thể vẽ ra được ngũ quan của chị ấy cả." Cố Hiểu Mộng nói.

Một khoảng thời gian dài sau khi được thả khỏi Trung Thống, Cố Hiểu Mộng cứ thế ngồi ở nhà chờ đợi, chưa từng ra ngoài.

Một phần công chuyện làm ăn trong nhà do Tống Chước lo liệu, còn một phần là do người của baba nàng sắp xếp. Cố Hiểu Mộng trước giờ không quản những chuyện này. Cố Hiểu Mộng tin tưởng Tống Chước, không chỉ vì cậu ta đã ngăn lại viên đạn kia. Khi Cố Hiểu Mộng từng đi nói với Tống Chước muốn cậu ta giả thành người yêu của mình, Tống Chước không hề nghĩ ngợi mà đồng ý ngay. Cậu ta là người thông minh, ít nhiều gì thì cậu ta cũng phát giác ra được một chút manh mỗi nhưng cậu ta lại chưa từng hỏi đến. Lúc Trung Thống điều tra Cố Dân Chương, Tống Chước cũng phải tiếp nhận điều tra trong một khoảng thời gian dài. Nhưng trong lúc bị điều tra, cậu ta vẫn cố gắng cung cấp rất nhiều lời làm chứng có lợi cho Cố Dân Chương.

Mỗi buổi chiều Tống Chước đều sẽ đến tìm Cố Hiểu Mộng. Mỗi lần đẩy cửa phòng của Cố Hiểu Mộng ra, cậu ta đều không kiềm lòng được mà thở dài một tiếng. Căn phòng mãi mãi bị bao phủ trong bầu không khí âm u, lạnh lẽo, không chút sức sống. Có một lần, sau khi cậu ta đi vào, đúng lúc nhìn thấy Cố Hiểu Mộng đang yên lặng nằm ngủ. Phản ứng bản năng đầu tiên của Tống Chước là đi đến kiểm tra hơi thở của Cố Hiểu Mộng.

Buổi tối, Tống Chước cứ nhất định phải dời hai chiếc ghế nằm đặt ở ban công lầu một, cùng Cố Hiểu Mộng nằm hóng mát.

Buổi tối của Đài Bắc vô cùng náo nhiệt. Tất cả mọi người đều ra ngoài hóng mát, tản bộ, khắp mọi nơi đều có thể nhìn thấy các đứa nhóc đang chơi đùa và các quầy bày bán đồ nướng.

Cố Hiểu Mộng nằm trên ghế, yên lặng nhìn mấy đứa trẻ đang vui đùa, dòng người ngược xuôi và người bán kem đang không ngừng múc kem tươi trong thùng sắt cách đó không xa. Ánh mắt của Cố Hiểu Mộng luôn chỉ nhìn về một hướng, một khu vực. Nơi đó có cái gì thì nàng sẽ nhìn cái đó. Nàng nói rất ít, phần lớn thời gian đều chỉ nhìn về phía xa xa hoặc lẳng lặng nằm ngủ trên ghế, đợi đến khi Tống Chước sắp trở về, kêu nàng dậy thì nàng mới mơ mơ màng màng quay trở về phòng.

Thỉnh thoảng Tống Chước sẽ nói cho nàng nghe về một số công chuyện làm ăn. Dù sao cậu ta cũng chỉ quản lý thay cho Cố Hiểu Mộng thôi, nhưng dường như Cố Hiểu Mộng chưa bao giờ phản ứng lại với những chuyện này.

Vào một buổi tối, Tống Chước nói gần đây nhận được một đơn đặt hàng lớn cho nên buổi sáng sẽ vô cùng bận rộn. Cậu ta còn nói gần đây phải mở rộng kinh doanh, cần phải tuyển thêm một số người đến... Tống Chước đang nói, Cố Hiểu Mộng đột nhiên nói một câu: "Ngày mai anh đem cho tôi một cây kem đi."

Tống Chước im lặng, nhìn theo ánh mắt của Cố Hiểu Mộng thì trông thấy một quán kem cách đó không xa: "Cổ họng của cô vốn không được tốt, đừng ăn đồ lạnh như vậy." Tống Chước khuyên ngăn.

Cố Hiểu Mộng không trả lời.

Tống Chước thở dài một hơi. Cậu ta không quản được Cố Hiểu Mộng. Cậu ta không mua thì cũng sẽ có người hầu mua: "Được thôi." Tống Chước nói.

Không biết có phải vì ly kem tươi này không, Cố Hiểu Mộng lại bắt đầu phát sốt.

Vẫn ho kịch liệt như cũ, cuống họng tắc nghẽn không thể nói được chữ nào. Sau lần sốt cao khi còn ở Trung Thống, sau đó nàng lại sốt thêm hai trận nữa.

Bác sĩ đến, thuần thục chườm khăn hạ nhiệt cho nàng, sau đó nói với Tống Chước: "Cũng bị viêm giống như lần trước." Sau đó ông ấy lại nói: "Phổi của Cố tiểu thư, có phải có bệnh cũ không?" Tống Chước cúi đầu nhìn thoáng qua Cố Hiểu Mộng. Cố Hiểu Mộng bụm miệng ho khan mấy tiếng, sau đó khoát tay, không trả lời câu hỏi của bác sĩ, chỉ nói một câu: "Cảm ơn bác sĩ."

Sau khi bác sĩ đi, Tống Chước ngồi xuống ghế, nhìn Cố Hiểu Mộng.

Tuy Tống Chước chỉ lớn hơn Cố Hiểu Mộng một tuổi, nhưng bây giờ nhìn lại cậu ta, khác biệt hoàn toàn so với chàng trai trắng trẻo đi theo nàng khi còn ở chính phủ Uông Ngụy, đã trầm ổn, chững chạc hơn rất nhiều.

Bởi vì buổi chiều, ánh sáng trong phòng cũng không quá tốt. Người làm đã lấy thau nước đá đi, không khí có chút oi bức. Tay của Tống Chước bám lấy đầu gối, ngồi ở chỗ đó, hai vai buông thõng. Cậu ta suy nghĩ rất lâu mới mở miệng, giọng nói trầm thấp, trầm thấp giống như hoàng hôn này vậy. Cậu ta nói: "Nếu như muốn trùng phùng thì trước tiên cô phải còn sống đã."

Không ai nhắc đến ba chữ "Lý Ninh Ngọc" này, nhưng Lý Ninh Ngọc cứ như vậy xuất hiện trong thế giới của nàng, giống như trong cuộc sống của Cố Hiểu Mộng, phần lớn từ ngữ đều có thể có liên quan đến Lý Ninh Ngọc, ví dụ như hai chữ "trùng phùng" này.

Đột nhiên Cố Hiểu Mộng lại nhớ tới một câu thơ của một nhà thơ người Mỹ.

"Bi thương, chính là không thể cùng người trải qua cuộc sống này."

Cố Hiểu Mộng không nói chuyện, chỉ ho khan, nhưng rõ ràng có một dòng lệ chảy ra từ khóe mắt của nàng.

Viện khoa học mỗi năm đều sẽ có một nhóm sinh viên đại học sắp tốt nghiệp đến học tập. Hằng năm, vào lúc này, ký túc xá yên tĩnh đều sẽ trở nên nhộn nhịp, tràn đây không khí thanh xuân.

Phần lớn nhà khoa học đều rất dễ gần, cũng vô cùng vui lòng dẫn theo lực lượng hậu bối này. Nếu như gặp được người nào thông minh, có thiên phú thì sẽ đặt trọng tâm lưu ý, không chừng cuối cùng còn sẽ viết thư đề cử, tiến cử giữ lại.

Ngày đầu tiên sinh viên khoa toán đến đây, hỏi một vị đồng nghiệp của Lý Ninh Ngọc: "Làm nghiên cứu toán học phải mang theo tinh thần như thế nào thì mới có thể thành công?" Người đồng nghiệp kia suy nghĩ một chút, nói: "Các em cứ quan sát học hỏi Lý lão sư là được." Nói xong, anh ta chỉ về phía bàn làm việc của Lý Ninh Ngọc. Lúc đó, Lý Ninh Ngọc cũng không có ở đây.

Lý Ninh Ngọc không ở trong văn phòng là một tình huống vô cùng hiếm thấy. Đồng nghiệp đã từng trêu chọc, nói chỉ sợ Lý Ninh Ngọc chính là người ở trong văn phòng này thời gian dài nhất. Thực ra người nào bên trong viện nghiên cứu cũng đều có thể thức đêm. Cho dù là 1 2 giờ đêm, từ bên ngoài nhìn vào, trong ký túc xá vẫn có không ít cửa sổ còn sáng đèn. Nhưng cho dù như thế này thì mọi người cũng không thể vượt qua được Lý Ninh Ngọc. Lý Ninh Ngọc cả đêm không về, ngâm ở chỗ này đã trở thành hình ảnh vô cùng bình thường.

Lãnh đạo có lần nhịn không được khuyên Lý Ninh Ngọc chú ý thân thể. Lý Ninh Ngọc chỉ mỉm cười, nói: "Tôi ngủ rất ít."

Thực sự Lý Ninh Ngọc ngủ càng ngày càng ít dần. Hơn nữa sau khi tỉnh dậy lúc tờ mờ sáng thì cũng không thể ngủ tiếp được nữa.

Tỉnh dậy lúc bình minh chính là thói quen của Lý Ninh Ngọc. Từ khi đi du học ở nước ngoài thì đã như vậy rồi. Chỉ là tình trạng không giống nhau thì tâm trạng sau khi tỉnh lại cũng sẽ hoàn toàn khác nhau.

Lúc còn trẻ, vừa tỉnh dậy, nhìn đồng hồ đeo tay một cái, chưa được một lúc sau thì cô đã có thể dần dần ngủ thiếp đi mất. Sau đó ở chung với Cố Hiểu Mộng, cô sẽ tỉnh lại, sẽ vươn tay ôm Cố Hiểu Mộng vào lòng rồi mới ngủ tiếp. Cố Hiểu Mộng trong cơn mơ màng cũng vô cùng phối hợp rút vào lòng cô. Lâu dần, động tác này hình thành phản xạ không điều kiện, đến mức độ lúc vừa mới tách ra, Lý Ninh Ngọc vẫn vô thức vươn tay muốn ôm Cố Hiểu Mộng.

Buổi sáng Bắc Bình, ngoại trừ lúc giữa hè, phần lớn thời gian đều sẽ mang theo chút hơi lạnh khiến cho người ta không kiềm được kéo kín chăn mền. Lý Ninh Ngọc đã từng cảm thấy khoảng thời gian này rất tốt đẹp. Ngày mới bắt đầu, chính là thời khắc ngập tràn hi vọng nhất. Bạn có thể lựa chọn ngủ tiếp, cũng có thể rời giường, làm một vài việc bản thân muốn làm, không có ai quấy rầy, cũng không có chuyện gì phải lo lắng. Nhưng bây giờ, Lý Ninh Ngọc lại cảm thấy nó quá khó khăn, trong ngoài tòa nhà đều yên tĩnh đến đáng sợ. Ban đêm phải yên tĩnh là điều đương nhiên, nhưng thế giới sau khi trời sáng vẫn cứ tĩnh lặng như thế sẽ cho người ta cảm giác vô cùng thất vọng và cô đơn.

Hôm đó, bởi vì Lý Ninh Ngọc thức quá trễ cho nên trực tiếp nằm gục xuống bàn ngủ thiếp đi. Đợi đến một ngày mới bắt đầu, cô lại vô cùng chuẩn xác tỉnh giấc.

Cổ, cánh tay và bả vai đều vô cùng nhức mỏi. Đèn bàn chỉ vào lúc bình minh mới ảm đạm đến thế. Lý Ninh Ngọc giơ tay tắt đèn, văn phòng chìm vào bóng rồi, trên mặt bàn bày đầy những tờ giấy nháp ghi công thức mà cô thức suốt một đêm để tính toán. Lý Ninh Ngọc cúi đầu phát ngốc, cả người giống như là một cái xác trống rỗng, không nhúc nhích.

Cửa văn phòng đột nhiên bị đẩy nhẹ ra, để lộ một gương mặt nữ sinh. Cô ấy không nghĩ trong văn phòng vẫn còn có người, lập tức đứng cứng ngắc trước cửa.

Lý Ninh Ngọc cũng nghiêng đầu nhìn cô ấy, lại phát hiện cô gái kia đứng thẳng tắp, ngơ ngác nhìn cô. Lý Ninh Ngọc nhíu mày. Cô gái kia lấy lại tinh thần, bối rối cúi đầu, nói: "Chào lão sư, em là Trần Hi, sinh viên khoa toán học của đại học Thanh Hoa." Lý Ninh Ngọc gật gật đầu, tỏ vẻ đã biết cô ấy nằm trong nhóm sinh viên đến đây học tập.

Bước chân của cô bé rất nhẹ, rất cẩn thận bước vào văn phòng. Văn phòng khôi phục sự yên tĩnh. Một lát sau, cô bé kia lại nhút nhát đi đến, đưa đến một hộp cơm: "Lão sư, đây là bữa sáng của em."

Lý Ninh Ngọc nhìn hộp cơm một chút, không động đậy, quay đầu hỏi cô ấy: "Tại sao lại đến sớm như vậy?"

Cô ấy thấy Lý Ninh Ngọc chủ động hỏi mình, có chút vui vẻ, cũng không hề câu nệ, nói: "Đến sớm chuẩn bị một chút." Lý Ninh Ngọc khẽ gật đâu, nhìn cô bé kia một chút. Cô phát hiện, lúc cô bé này nói chuyện với mình thì sẽ luôn nhìn thẳng vào mình, trong mắt là cảm xúc hân hoan không thể che giấu.

Lý Ninh Ngọc không nói nữa, cúi đầu sắp xếp lại mớ giấy nháp tối qua. Cô bé kia vẫn chưa thỏa mãn, xoay người rời khỏi bàn làm việc của Lý Ninh Ngọc, chưa đi được hai bước thì đã quay trở lại, trực tiếp hỏi: "Lão sư, em có thể đi theo cô không?"

Bàn tay sắp xếp mớ giấy nháp của Lý Ninh Ngọc không hề ngừng lại, nói: "Trong tay những người khác ít nhiều đều sẽ có thư đề cử, ở chỗ tôi chưa bao giờ có."

"Em không để ý đâu. Em không phải đến đây vì thư đề cử." Cô bé kia hồ hởi nói chuyện, sau đó bổ sung thêm một câu: "Em chỉ muốn theo cô học tập thôi."

Sắc trời càng ngày càng sáng dần, ánh sáng trong phòng cũng càng lúc càng tốt hơn. Ngũ quan của hai người dần trở nên rõ ràng, không chỉ còn là hình dáng mông lung nữa. Lý Ninh Ngọc dừng lại động tác trên tay, quay đầu cẩn thận quan sát cô bé một chút. Vẻ mặt có hơi buông lỏng. Dung mạo của cô bé quá thanh tú, nhưng nhìn kỹ vẫn không giống.

Sau đó Trần Hi vẫn trở thành sinh viên được Lý Ninh Ngọc dẫn dắt. Cô bé vô cùng chịu cực chịu khó. Lý Ninh Ngọc thức đến mấy giờ thì cô bé sẽ thức đến bấy nhiêu giờ. Lý Ninh Ngọc thức trắng đêm không trở về thì cô bé cũng sẽ trấn thủ ở chỗ này. Phần lớn thời gian, Lý Ninh Ngọc đều rất ít nói, chỉ khi cô bé hỏi, Lý Ninh Ngọc mới đơn giản nói với cô bé vài câu. Đôi khi Lý Ninh Ngọc sẽ giao cho cô bé một vài công việc đơn giản. Phần lớn thời gian, cô bé muốn học gì, làm gì đều là tự do lựa chọn.

Từ sáng đến tối, tầng này của ký túc xá dường như đều không có ai, hành lang luôn tắt đèn, giống như một đường hầm tối đen không có điểm cuối. Trần Hi ngồi trên ghế nhăn nhó một lúc lâu, nhịn không được mới chạy đến nói với Lý Ninh Ngọc: "Lão sư, có thể... phiền cô đi nhà vệ sinh với em được không?"

Nhà vệ sinh nằm ở đầu bên kia của hành làng, cho dù như thế nào thì cô bé cũng không dám đi.

"Em sợ cái gì?" Lý Ninh Ngọc ngẩng đầu khỏi đống giấy nháp, hỏi cô bé.

"Sợ quỷ." Mặt của Trần Hi đỏ lên, nhỏ giọng nói.

Lý Ninh Ngọc cong khóe miệng xuống, nói: "Khi đó chúng tôi sợ Quỷ Nhật, bây giờ các em lại sợ ma quỷ."

Tuy nói như vậy nhưng Lý Ninh Ngọc vẫn đứng dậy, đi cùng cô bé ra khỏi văn phòng.

Trong bóng tối, Trần Hi muốn nói chuyện với Lý Ninh Ngọc để bản thân không cảm thấy sợ. Cô bé hỏi Lý Ninh Ngọc: "Lão sư, lúc vừa đến đây, có một vị lão sư nói, nếu như muốn học tập tinh thần nghiên cứu khoa học thì có thể quan sát cô. Làm sao cô làm được... toàn tâm toàn ý như vậy chứ?"

Lý Ninh Ngọc suy nghĩ một lát, trả lời: "Quên đi bản ngã là được."

Đối với Lý Ninh Ngọc mà nói, quên đi bản ngã chính là lối thoát duy nhất của cô ngay lúc này.

Lý Ninh Ngọc bước đi, hòa thành một thể với bóng tối vô tận.

Tống Chước đi tìm bạn thân của Cố Dân Chương. Dưới sự tiến cử của ông ấy, Cố Hiểu Mộng được mời làm giảng viên đại học. Đối với phần công tác này, Cố Hiểu Mộng cũng không từ chối.

Trong tưởng tượng về cuộc sống sau khi giành được thắng lợi của nàng, nàng muốn làm một giảng viên đại học. Mặc dù hình thức giống nhau nhưng bản chất lại hoàn toàn khác biệt so với những gì nàng tưởng tượng.

Lần sinh bệnh kia, sau khi nghe lời khuyên của Tống Chước, trạng thái tinh thần của Cố Hiểu Mộng đã tốt hơn rất nhiều so với trước đó, dường như lại dấy lên hi vọng được trùng phùng.

Mặc dù nàng cũng không có quá nhiều tiết dạy, một tuần chỉ tầm khoảng 3 4 tiết, nhưng nàng đều dùng phần lớn thời gian mỗi ngày để soạn bài. Có đôi khi trời vừa sáng, nàng đã một mực ngồi trước bàn sách cho đến tận tối muộn, đều chỉ vì soạn bài.

Ấn tượng đầu tiên của sinh viên đối với Cố Hiểu Mộng chính là dáng người xinh đẹp, nhưng lại trông quá yếu đuối, nhìn có vẻ sức khỏe cũng không tốt lắm, thỉnh thoảng khi đang dạy học, nàng sẽ ho khan vài tiếng.

Cố Hiểu Mộng lên lớp, tất cả mọi người đều rất yên tĩnh, bởi vì Cố Hiểu Mộng giảng bài rất nhanh, có rất nhiều thứ giảng giải trình tự các bước vô cùng đơn giản, không hề giống với các giảng viên khác sẽ kiên nhẫn, cẩn thận giải thích. Cố Hiểu Mộng lên lớp, trước giờ đều có một loại cảm giác học không hiểu là do em không xứng. Cho nên khi nàng dạy, tất cả mọi người đều nhìn chằm chằm nàng viết bảng. Nàng viết cái gì thì tất cả mọi người đều tranh thủ thời gian chép cái đó. Nàng nói cái gì thì tất cả mọi người đều xoàn xoạc ghi chép lại, giữ lại sau này từ từ tiêu hóa. Chỉ có một cô bé, trước giờ đều không cần ghi chép. Bởi vì tất cả mọi người đều cúi đầu ghi chép, chỉ có một mình cô bé đó vẫn luôn ngồi thẳng tắp, cho nên vô cùng dễ thấy, khiến cho Cố Hiểu Mộng không thể không nhìn cô bé thêm vài lần. Mỗi lần Cố Hiểu Mộng nhìn cô bé thì cô bé lập tức nhíu mày hoặc là gật gật đầu, không biết là muốn biểu đạt "Em đã hiểu" hay là muốn nói "Quá đơn giản" nữa.

Sau khi tan học, sinh viên gặp riêng Cố Hiểu Mộng để hỏi bài vô cùng ít. Bởi vì lúc đầu, sinh viên đến hỏi bài Cố Hiểu Mộng, phần lớn đều bị Cố Hiểu Mộng dùng "Cái đề này quá đơn giản, em trước tiên quay về tự suy nghĩ thật kỹ trước đã" đánh văng trở về.

Hôm đó, sinh viên kia sau khi tan học thì cầm một tờ giấy đến tìm Cố Hiểu Mộng, đưa đến hỏi nàng: "Cố lão sư, có đề bài này muốn nhờ cô giảng một chút." Cố Hiểu Mộng nhìn thử, là cô bé sinh viên chưa bao giờ ghi chép lại bài, sau đó lại nhìn đến đề bài trên tờ giấy. Sau khi đọc đề bài, nàng lại nhìn cô bé sinh viên này, hỏi: "Em gặp vấn đề ở bước giải nào?"

Cô bé sinh viên lấy ra một cây viết chì, viết ra một vài bước trên giấy, nói khái quát suy nghĩ của mình cho Cố Hiểu Mộng nghe, sau đó nói: "Giải được đến chỗ này thì bị mắc kẹt."

Cố Hiểu Mộng hơi nhíu mày, kẹp tờ giấy vào giáo án của mình, nói: "Để tôi suy nghĩ một chút, tiết học sau sẽ giảng cho em."

Cố Hiểu Mộng đi được vài bước thì xoay người lại, quan sát cô bé sinh viên này một chút, vô cùng thưởng thức nở nụ cười, sau đó mới rời đi.

Tiết học sau, Cố Hiểu Mộng không đến lớp, giảng viên dạy thay nói nàng xin phép nghỉ bệnh. Trong lòng cô bé sinh viên vô cùng lạc lõng, tiết học kia vốn dĩ chẳng nghe lọt tai.

Ngày hôm sau, một vị lão sư đến tìm cô bé, nói có người gọi điện thoại đến văn phòng để tìm cô. Cô bé sinh viên khó hiểu, đi đến văn phòng nghe điện thoại. Đầu dây bên kia truyền đến tiếng nói của Cố Hiểu Mộng: "Em đến đây một chuyến. Tôi giảng đề bài cho em một chút. Địa chỉ là..."

Cô bé cúp học nửa ngày, ngồi tàu điện đi đến địa chỉ mà Cố Hiểu Mộng nói.

Đó là một căn biệt thự hai tầng, trong cương có nhu. Cô bé đi đến gõ cửa. Người ra mở cửa là một phụ nữ trung niên. Cô bé nói muốn tìm Cố lão sư thì người kia trực tiếp dẫn cô bé lên thư phòng ở lầu một.

Cô bé gõ cửa, sau khi được cho phép mới đẩy cửa bước vào. Vừa mới vào của, cô bé đã nổi da gà. So với thời tiết nóng nực bên ngoài, ở trong đây chính xác là một hầm băng. Căn phòng kéo kín rèm, bật đèn bàn. Ánh sáng từ chiếc đèn bàn chỉ có thể chiếu sáng được chiếc bàn sách. Cố Hiểu Mộng thấy cô bé đến thì hất cằm, ra hiệu cho cô bé ngồi vào chiếc ghế đối diện bàn đọc sách.

"Đề bài của em, tôi giải ra rồi. Tôi giảng sơ cho em một chút, xem thử em có thể hiểu được không." Cố Hiểu Mộng đi thẳng vào vấn đề, nói. Nói xong, nàng nhìn thoáng qua cô bé, phát hiện phần da cánh tay lộ bên ngoài áo đều đang nổi da gà.

Cố Hiểu Mộng kêu người hầu đến đem thau nước đá đi, lại kéo rèm cửa và mở toang cửa sổ ra. Cả căn phòng trong nháy mắt lập tức thay đổi, dường như đã trở nên không còn bị ngăn cách với thế giới này nữa.

Thật ra ngay lần đầu Cố Hiểu Mộng giảng bài thì cô bé đã hiểu rồi, nhưng khi Cố Hiểu Mộng hỏi cô bé "Đã hiểu chưa" thì ma xui quỷ khiến mà cô bé lại lắc đầu. Cố Hiểu Mộng hỏi cô bé khó hiểu chỗ nào. Cô bé giơ tay tùy tiện chỉ đại một chỗ.

Bời vì đề bài này thực sự rất khó, đã vượt khỏi phạm vi học tập hiện tại của cô bé, cho nên Cố Hiểu Mộng kiên nhẫn hơn nhiều so với lúc bình thường. Lúc Cố Hiểu Mộng giảng lại bài lần thứ hai, cô bé không chăm chú nghe giảng nữa.

Cô bé lén lút quan sát Cố Hiểu Mộng. Mặc dù ở trong nhà, nhưng vì phải gặp khách, cho nên Cố Hiểu Mộng mặc áo sơ mi, nhưng nàng lại xoắn tay áo lên vài nấc, cổ áo cũng mở ra hai nút.

Nàng bây giờ, rất khác biệt so với khi ở trường. Cố Hiểu Mộng những lúc đi dạy đều mặc áo sơ mi tay dài, nút áo cũng cài vô cùng nghiêm chỉnh.

Cô bé nhìn thấy vết sẹo dài trên cánh tay của Cố Hiểu Mộng. Phần da nơi nút áo sơ mi mở ra cũng có thể trông thấy loáng thoáng vài vết sẹo. Cô bé sửng sốt. Trước giờ cô bé chưa từng trông thấy trên thân thể của một người nào chỉ với một diện tích nhỏ mà lại có nhiều vết sẹo như vậy. Trong đầu cô bé tưởng tượng ra rất nhiều câu chuyện liên quan đến Cố Hiểu Mộng, nhưng cũng không có cách nào tìm ra được sự liên hệ giữa một người trắng trẻo, gầy yếu như Cố Hiểu Mộng và những vết sẹo này.

Cố Hiểu Mộng dùng ngòi bút gõ vào bàn một cái, để cô bé tập trung lại: "Có phải em đã hiểu ngay từ lần giảng bài đầu tiên rồi không?" Cố Hiểu Mộng hỏi. Cô bé sinh viên tự cảm thấy bản thân thất thố, ngượng ngùng gật gật đầu.

"Em rất thông minh." Cố Hiểu Mộng nói. Nói xong, nàng lấy từ trong ngăn kéo ra một tờ giấy, phía trên là một đề toán, đưa cho cô bé: "Đây là đề toán tôi làm lúc còn học đại học, em đọc thử xem sao."

Cô bé này đọc đề, bắt đầu cau mày suy nghĩ, cả người trong nháy mắt lập tức chìm vào trong đề bài.

Lúc hoàng hôn, sau khi cô bé viết một đống chữ số lít nha lít nhít trên giấy nháp mới thở phào nhẹ nhõ, đưa tờ giấy cho Cố Hiểu Mộng. Cố Hiểu Mộng nhận lấy tờ giấy, nghiêm túc xem, vừa nhìn một cái, đã không kìm được nói một câu: "Em thực sự rất có thiên phú."

Gió đêm thổi qua khung cửa sổ, thổi bay những tờ giấy nằm trên bàn. Nhiệt độ lúc này mát mẻ hơn ban ngày rất nhiều.

"Em tên gì?" Cố Hiểu Mộng hỏi.

"Khương Mộ." Cô bé kia trả lời.

Cố Hiểu Mộng mỉm cười, là nụ cười phát ra từ tận đáy lòng. Nàng nói: "Em rất giống với một vị cố nhân của tôi. Nếu có cơ hội, tôi có thể dẫn em đi gặp chị ấy. Chị ấy cũng vô cùng thích những đứa bé thông minh."

"Vậy người đó đang ở đâu? Tại sao lại không thể gặp chứ?" Khương Mộ hỏi.

"Bởi vì cách sông, cách núi, cách vận mệnh."

Lúc chạng vạng tối, Tống Chước đến đây. Lần đầu tiên cậu ta trông thấy Khương Mộ thì có hơi sửng sốt một chút. Đây là lần đầu tiên cậu ta trông thấy trong nhà của Cố Hiểu Mộng xuất hiện người lạ, ngoại trừ cậu ta. Cũng bởi vì khi trông thấy cô bé, khiến cho Tống Chước nhớ đến một người.

Tống Chước đến, Cố Hiểu Mộng bèn để cậu ta đưa Khương Mộ về trường học.

Đợi Khương Mộ đi rồi, Cố Hiểu Mộng mới không kiềm chế được nữa, ho khan mấy tiếng. Ho xong, nàng chỉ cảm thấy cuống họng và trong miệng toàn là mùi máu tươi nồng đậm.

Trên xe, Tống Chước thỉnh thoảng lại thông qua kính chiếu hậu, nhìn Khương Mộ đang ngồi phía sau, mà Khương Mộ lại đang mím môi, dường như đang suy nghĩ chuyện gì đó.

"Hiểu Mộng giảng bài, các em đã quen thuộc chưa?" Tống Chước tùy ý mở miệng hỏi.

Khương Mộ hồi thần, nhẹ gật đầu. Sau đó, cô bé hỏi Tống Chước: "Cố lão sư vẫn luôn ho khan dữ dội như vậy sao?"

"Mấy ngày gần đây có hơi nghiêm trọng một chút."

Khương Mộ lại chìm vào trầm tư. Trước mắt nàng hiện ra những vết sẹo trên cánh tay và dưới cổ áo của Cố Hiểu Mộng.

Lúc Cố Hiểu Mộng ở trường vẫn luôn khiến cho người ta nảy sinh một loại cảm giác thờ ơ. Có đôi lúc khi sinh viên đang giải đề, nàng không giảng bài, suy nghĩ cũng không biết đã bay đến nơi nào, cứ mãi nhìn ra ngoài cửa sổ hoặc nhìn xuống nền nhà mà ngẩng người.

Dường như không có chuyện gì có thể khiến cho nàng để bụng, không có thứ gì có thể khơi dậy hứng thú của nàng. Nhưng khi Cố Hiểu Mộng đang giảng bài, cơn gió đêm thổi đến, rõ ràng Khương Mộ đã nhìn thấy trên mỗi một trang giấy, ngoài những bài học chuẩn bị cho tiết dạy, thì đều xuất hiện một hình ảnh phác hoạ đơn giản, có lớn, có nhỏ. Trên mỗi tờ giấy đều vẽ một cô gái không có ngũ quan và một vài đường cong trừu tượng, giống như đường cong hình thể.

Nếu nói nàng chưa từng để bụng bất cứ chuyện gì, vậy tại sao nàng lại cố chấp bắt buộc phải vẽ lên mỗi trang giấy hai hình ảnh như vậy chứ?

Từ hôm đó trở về sau, Khương Mộ chưa từng gặp lại Cố Hiểu Mộng.

Cố Hiểu Mộng xin nghỉ phép dài ngày, tạm thời sẽ không dạy họ nữa. Khương Mộ vẫn muốn tìm cách đi tìm Cố Hiểu Mộng, nhưng lại không có cơ hội, cũng không có lý do. Lại đi nhờ nàng giải đề sao? Nhưng vẫn cảm thấy không ổn, cho nên cứ tiếp tục chờ đợi.

Đến một ngày, Khương Mộ gặp được chủ nhiệm khoa, rốt cuộc không nhịn được nữa, hỏi: "Khi nào Cố lão sư mới quay lại ạ? Cô ấy còn dạy tụi em nữa không?"

Thầy chủ nhiệm khoa nói: "Cố lão sư đang làm phẫu thuật, có lẽ gần đây sẽ không quay lại được."

Lúc Khương Mộ tình cờ nhìn thấy Cố Hiểu Mộng ở bệnh viện. Cố Hiểu Mộng đã gầy đến mức nhận không ra, trên cổ quấn lớp băng vải màu trắng. Tống Chước đang ở bên cạnh chăm sóc nàng, gương mặt cũng vô cùng tiều tụy.

"Cô ấy thế nào rồi?" Khương Mộ có chút không dám tin, hỏi thăm.

"Làm phẫu thuật khí quản." Tống Chước đưa tay xoa cổ một chút, nói. Nhưng mà dựa theo nét mặt của cậu ta để suy đoán thì có vẻ tình hình không được khả quan lắm.

Đêm đó, Khương Mộ vẫn luôn ngồi đợi ở phòng bệnh. Cố Hiểu Mộng lúc tỉnh lúc mê, có đôi khi tỉnh lại thì chỉ miễn cưỡng uống được vài ngụm nước. Trong lúc vô tình, Khương Mộ nghe thấy Tống Chước trò chuyện với bác sĩ trong hành lang. Cậu ta không dám nói chuyện lớn tiếng, lại không kiềm chế được sự phẫn nộ: "Tình trạng của cô ấy sao lại tồi tệ như vậy chứ. Bây giờ ngay cả thức ăn cũng ăn không được nữa."

"Ngay từ đầu chúng tôi đã phán đoán khí quản của cô ấy có khối u, dẫn đến khí quản phình to, nhưng xét theo tình hình hiện tại, e rằng phổi của cô ấy cũng có bệnh." Bác sĩ nói.

"Bây giờ miệng vết thương của cô ấy không thể khôi phục, ngay cả chuyện ăn uống cơ bản cũng không giải quyết được, bây giờ tính sao đây?" Tống Chước đè thấp giọng nói, nén lại lửa giận, hung hăng hỏi.

"Chỉ có thể duy trì trị liệu, xem thử mức độ hồi phục của cô ấy thôi." Bác sĩ bất đắc dĩ nói.

Khương Mộ mở cửa phòng, nhìn thấy Tống Chước dựa trên tường, hai tay ôm đầu: "Tống tiên sinh, hô hấp của Cố lão sư có chút bất ổn." Khương Mộ nói.

Tống Chước vừa nghe xong thì bước nhanh đến, lúc này Khương Mộ mới nhìn thấy râu ria trên mặt cậu ta đã mọc ra rất dài, tóc cũng trở nên lộn xộn.

Tống Chước đi đến cạnh giường, cúi người lắng nghe tiếng hít thở của Cố Hiểu Mộng còn màng theo tạp âm, sau đó nhẹ giọng hỏi: "Hiểu Mộng, cần gọi bác sĩ không?"

Đầu của Cố Hiểu Mộng, dường như không có chút biên độ nào, khẽ lắc.

Lúc bác sĩ đến đổi thuốc, Khương Mộ mới trông thấy vết dao dưới lớp vải trắng. Đây là lần đầu tiên cô bé trông thấy vết dao đáng sợ đến như vậy. Trên cổ của Cố Hiểu Mộng có một vết dao lớn vẫn chưa khép miệng. Khương Mộ đứng đó bỗng cảm thấy choáng váng. Lần đầu tiên cô bé cảm nhận chân thật thế nào gọi là thân thể bị giập nát. Rõ ràng lần trước khi gặp nàng, nàng vẫn còn đang mặc một chiếc áo sơ mi trắng, nghiêm túc giảng bài cho cô bé mà.

Sức khỏe của con người một khi mất đi, sẽ giống như ruột bông gòn trong gió, nháy mắt sẽ bị thổi tan.

Cố Hiểu Mộng bắt đầu hôn mê lâu hơn, cả ngày chỉ dựa vào việc truyền dịch để duy trì các chức năng của cơ thể. Bởi vì tình trạng sức khỏe vô cùng kém, cộng thêm việc phổi xuất hiện chứng viêm, vết dao trên cổ nàng không chỉ không thể hồi phục mà bắt đầu bị nhiễm trùng.

Bản thân Cố Hiểu Mộng dường như cũng đã cảm nhận được sinh mệnh của mình đang từng chút trôi qua, giống như hi vọng bị dập tắt qua từng ngày, rõ ràng như thế, nhưng lại cũng hỗn loạn như thế. Đôi khi Cố Hiểu Mộng tỉnh táo, nàng sẽ bàn giao một số việc với Tống Chước, mặc dù mỗi lúc nói ra được một chữ đều vô cùng khó khăn, ảnh hưởng đến vết thương vô cùng đau nhức.

Nói rất nhiều. Cố Hiểu Mộng lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Có thể là do ý thức của nàng bắt đầu mơ hồ rồi.

"Đưa khung hình nhỏ trên bàn của tôi cho Khương Mộ. Con bé còn trẻ, còn có cơ hội trở lại Đại Lục. Nếu như có cơ hội, hãy dẫn con bé đi, đi đến bất cứ nơi nào của Đại Lục cũng được." Cố Hiểu Mộng nói. Câu nói này, hai lần nàng tỉnh lại, đều lặp lại đủ hai lần.

Lúc Cố Hiểu Mộng tỉnh táo, chuyện nàng dặn dò Tống Chước nhiều nhất, chính là chăm sóc tốt cho baba của nàng, kêu Tống Chước có thời gian thì đi thăm ông ấy.

Chỉ là Cố Hiểu Mộng không biết, Tống Chước không nói cho nàng biết, baba của nàng, cũng đã đi đến trình độ cùng đường bí lối rồi

Hôm đó, suốt một ngày Tống Chước đều không có ở bệnh viện, đến khuya mới từ bên ngoài quay trở về, có chút thất hồn lạc phách. Cậu ta đi đến bên cạnh giường của Cố Hiểu Mộng, lấy từ trong túi ra một băng vải màu đen, phía trên có thêu chữ "Hiếu". Cậu ta cuốn tay áo của đồng phục bệnh nhân lên, đeo băng vải này lên tay áo ngủ phía trong của Cố Hiểu Mộng, sau đó lại thả tay áo đồng phục bệnh nhân xuống.

Tập tục ở nơi đó, khi người lớn trong nhà qua đời, con cái đều phải để tang.

Tống Chước gục khóc trên cánh tay của Cố Hiểu Mộng. Những ngày tháng phóng túng tái hiện lại trước mắt của cậu ta, bao gồm cả Cố Hiểu Mộng với thần thái xán lạn và Cố Dân Chương được người người kính nể.

Lúc trước, Cố Hiểu Mộng chỉ mới 26 tuổi đã làm lãnh đạo trực tiếp của cậu ta, giống như một con ngựa chiến luôn trong tư thế ngẩng cao đầu. Nhưng hôm nay, nàng lại giống như một khúc gỗ khô đổ gục xuống thửa ruộng cạn, không một chút hi vọng, nằm dài trên giường, ngay cả hô hấp cũng trở nên khó khăn, thậm chí ngay cả người thân duy nhất cũng đã rời bỏ nàng.

Cố Hiểu Mộng nghe thấy tiếng khóc của Tống Chước, cố gắng mở mắt ra. Nàng dùng hết sức lực, hỏi: "Sao vậy?"

Tống Chước lắc đầu, ngừng khóc, nói: "Không có việc gì đâu."

Cố Hiểu Mộng chớp mắt, níu ống tay áo của Tống Chước, khó khăn nói: "Xin anh hãy chăm sóc cho baba của tôi, đừng nói cho ông ấy biết tình trạng của tôi."

So với hôm qua, giọng nói của nàng đã trở nên khàn hơn. Mỗi một chữ nói ra đều mang theo trạng thái khàn khàn, bén nhọn, vỡ vụn.

Tống Chước vừa khóc vừa gật đầu, sau đó nhịn không được, nói một câu: "Xin lỗi."

Lần phẫu thuật này, là Tống Chước khuyên Cố Hiểu Mộng thực hiện. Lúc đó cậu ta nói, cách tốt nhất để chống lại vận mệnh chính là sống qua vận mệnh. Câu nói này đã tác động đến Cố Hiểu Mộng.

Hai ngày cuối cùng trong sinh mệnh của Cố Hiểu Mộng, Khương Mộ luôn túc trực ở bệnh viện. Cố Hiểu Mộng vẫn luôn hôn mê, thỉnh thoảng Khương Mộ sẽ lấy bông y tế, thấm một chút nước, xoa lên đôi môi khô khốc của Cố Hiểu Mộng.

Đôi môi của Cố Hiểu Mộng rất đẹp, rất mỏng, rất tinh tế. Nếu không phải giống như bây giờ, không có một chút huyết sắc nào thì nó chắc chắn có thể câu hồn phách của người khác.

Hô hấp của nàng càng ngày càng khó khăn. Vào những lúc như thế này, Khương Mộ thậm chí muốn rút ống thở và ống truyền dịch của nàng ra. Nếu như không thể sống một cách có thể diện vậy chi bằng rời đi có thể diện một chút.

Nhưng chưa cần đợi Khương Mộ ra tay thì sinh mệnh của Cố Hiểu Mộng thực sự đã đi đến những giờ phút cuối cùng.

Đêm đó, đột nhiên Cố Hiểu Mộng kêu mama một tiếng, khiến cho Khương Mộ đang chợp mắt lập tức bừng tỉnh. Cô bé ghé sát vào giường của Cố Hiểu Mộng, lắng tai nghe thử nàng đang nói gì.

"Mama." Cố Hiểu Mộng nói.

Nước mắt của Khương Mộ lập tức chảy xuống. Cô bé ý thức được chuyện nên đến, cuối cùng cũng đến rồi.

Cố Hiểu Mộng cố gắng mở mắt ra một khe hở nhỏ. Ánh mắt như đang nhìn lên trần nhà, sau đó lại liếc mắt nhìn Khương Mộ. Ánh mắt của Cố Hiểu Mộ cũng không hẳn hoàn toàn tụ lại. Nàng nhìn Khương Mộ một chút, sau đó cố gắng nói ra hai chữ: "Chị Ngọc."

Cố Hiểu Mộng cố gắng nghiêng đầu sang một bên, thì thào nói với Khương Mộ: "Chị Ngọc, em rất nhớ chị..."

Cố Hiểu Mộng giơ tay lên, trên mu bàn tay đầy vết kim tiêm của ống truyền dịch. Nàng cố hết sức vuốt ve khuôn mặt của Khương Mộ, muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng cũng không còn sức để nói nữa.

Trong lúc thu dọn đồ vật của Cố Hiểu Mộng, trong túi bộ đồng phục bệnh nhân của nàng xuất hiện một tờ giấy được vo tròn. Mở ra, là một đoạn văn không biết nàng đã viết từ lúc nào. Có lẽ trong những ngày không lâu về trước, lúc còn tỉnh táo, nàng cố gắng chống đỡ cơ thể để viết những dòng chữ này. Chữ viết có chút lộn xộn.

"Chị Ngọc, trùng phùng đã là vô vọng. Thân thể tàn tạ và sự khó khăn mà vận mệnh an bài thực sự khiến người ta tuyệt vọng. Nhưng mà, em thực sự mãi mãi còn trẻ.

Có lúc nghĩ, không gặp lại nữa, có phải cũng là một cách làm cho đề bài khó giải này không. Có lúc lại nghĩ, chị ở bên đó, có phải cũng giống như em, mỗi lần nhớ đến lại càng thêm đau khổ không. Đôi khi sẽ nghĩ, nếu như quay trở lại từ đầu, mặc cho kết cục là sống hay chết, em vẫn sẽ lựa chọn yêu chị. Cái mạng này, cuối cùng cũng không thể trả lại cho chị, không thể cùng chị trải qua quãng đời còn lại, cũng không thể chết vì chị. Mang theo món nợ này, chúng ta ở kiếp sau vẫn sẽ có thể gặp lại nhau.

Chị Ngọc, chị là bóng tối, cũng là ánh sáng."

Cuối năm 1952, Cố Hiểu Mộng vì bạo bệnh, qua đời ở Đài Bắc.

(Hoàn chính văn)

.---/../-.//-.--/.-/-.

Cuối cùng thì...
Cách núi, cách biển, cách vận mệnh...
Cái nóng của Đài Loan không thể sưởi ấm chị Ngọc ở Bắc Bình...
Cái lạnh của Bắc Kinh không thể thổi đến Hiểu Mộng ở Đài Bắc.
Đau khổ nhất không phải là "chưa từng có được" mà chính là "đã từng có được"...

PS: Cảm ơn bạn nhỏ xiaolemon đã thức đến giờ này để phụ tui check chính tả và mấy lỗi sai sót ^^.

Bạn đang đọc truyện trên: truyentop.pro