Hình ảnh sưu tầm từ Pinterest, không thuộc sở hữu của mình.
_________
Tôi còn nhớ cái hôm đó, trời Thượng Hải đổ mưa, mưa âm ỉ kèm theo chút rét sun người, tôi sang đây đã một năm nhưng vẫn chưa quen được với nó. Đôi ủng ướt sũng, gập chiếc ô lại bên phòng trà nọ tít tận góc phố vì có tiếng ai hát man mác cả một buổi xế chiều. Tôi kiềm lòng sao được.
Tôi bước vào, chọn cho mình một chỗ khuất người. Khói thuốc mù mịt khắp nơi, xì gà đỏ rực khẩy lên khẩy xuống. Dưới ánh đèn tờ mờ cùng tiếng vỗ tay chan chác của mấy gã đàn ông áo quần công sở xộc xệ, dáng chị nhỏ bé, tay siết chiếc mic rồi cuối gập đầu.
Hai thứ duy nhất tôi nhớ từ buổi chiều hôm ấy, là rượu ở đây cay xè, và môi chị rất đỏ. Đến độ đèn sân khấu dù mập mờ vài tia, vẫn đủ để ám ảnh tôi suốt về sau.
Từ đó về sau, tối nào tôi cũng ghé đến phòng trà nọ ngồi nghe chị hát. Chị hát hay lắm. Lúc trầm lúc cao, mắt cứ díu vào nhau lúc cao trào, cổ họng gằn lên những câu chữ làm tôi lạnh sống lưng, cứ như tôi đã trải qua câu chuyện buồn như mấy bài chị hát vậy. Đếm đi đếm lại chẳng được mấy bài vui, cứ vài tuần thì lặp lại bài cũ, tôi cũng chẳng ngạc nhiên mấy, thuộc hết cả từng lúc ngắt nhưng chẳng khi nào thôi say mê.
Bạn bè nói tôi điên. Nói rằng nơi này lắm kẻ như chị ta, ca ca hát hát, say rồi lại tỉnh, trên người toàn mùi đàn ông. Họ nói chị lợi dụng tôi vì tôi là du học sinh theo học tại một ngôi trường danh giá chỗ này. Tôi không phản bác, tại tính tôi hiền. Tôi biết chứ, vì mỗi lần tôi đưa chị về, chị ngả vào lòng tôi, chẳng có mùi đàn ông nào ở đây cả, nếu có thì cũng chỉ là một chút mùi xì gà nhàn nhạt thôi, tôi cũng không bận tâm mấy, đan tay vào bàn tay chai sần của chị mà kiếm cho chị thứ gì đó bỏ vào chiếc bụng đói meo.
"Jiyeon này, em có khi nào mơ ước mình là người nổi tiếng không?"
"Em chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đó. Nghe cũng thú vị!"
"Ời. Tiếng vỗ tay, chị mê nó lắm. Cả mấy cái ánh đèn chói mờ mắt đó nữa. Lúc hát thì chói chẳng thấy được gì, lúc nó tắt đi thì đầu óc choáng váng, nhìn xuống mấy gương mặt chẳng rõ hình thù, nhưng chị nhận ra em, vì em bé người nhất."
"Em sẽ luôn ngồi dưới đấy."
Chị gầy lắm, lại cao hơi tôi nửa cái đầu. Khi nào đi hát cũng mặc đầm suông hai dây, làm lộ hai cái hõm vai thiệt sâu, khúc xương nhỏ nhô nhô, tôi ngắm nhìn, đầu óc mụ mị.
Tôi hỏi tại sao chị đến Thượng Hải hát, sao không ở lại Hàn Quốc, nơi này vừa đông đúc lại còn hỗn tạp, hát có hay đến mấy có khi cả kiếp cũng hoàn vô danh.
Chị cười bạc bẽo, như cái nghề này vậy. Tôi quên nói, đôi mắt chị buồn đến nhường nào. Nó đen láy, tưởng chừng như sâu hun hút, như một viên bi nhỏ giữa dãi ngân hà, cái đuôi mắt lúc nào cũng kẻ dài ra một đoạn, tôi nhìn vào cũng thấy lòng mình lê thê. Khi nào nhìn vào chúng, tôi cũng tự hỏi mình, điều gì làm đôi mắt chị buồn đến thế.
Chị nói tôi chị tên là Hyunjung, tôi hỏi người pha chế tại phòng trà họ lại nói tôi chị tên là Seola. Người ta gọi chị như vậy vì chị không nói tên mình cho ai biết, da chị thì trắng như tuyết còn môi thì đỏ như máu, tóc đen như gỗ mun, như những gì tôi nhớ qua cái giọng âm ấm dìu tôi đi ngủ của mẹ năm xưa, là Bạch Tuyết.
Chị mê ánh đèn sân khấu còn tôi thì thích ánh đèn led đủ thứ màu của mấy con phố rôm rả tiếng người qua lại nửa đêm, nồng nặc mùi hoan lạc. Tôi không có mấy cái thú vui như vậy, nhưng thấy rất thích thú khi mặt trời xuống và người ta kéo cửa sắt ken két, đẩy xe, bật đèn lên sáng rực cả dãy phố. Chị xoa đầu bảo tôi khờ, chị lại sợ ánh đèn đó nhất, vì nó làm chị cảm thấy ngợp, vì chị nhỏ bé không là gì, chí ít ánh đèn sân khấu nơi phòng trà kia còn là của chị độc chiếm.
Có mấy hôm tôi bận việc, mà cũng không phải việc gì quan trọng cả, nhưng không đi thì không được, lúc tôi đến quán thì người ta đã dọn ghế hết cả rồi. Chị ngồi thù lu một góc, người pha chế quen biết nên nấn ná pha cho chị cốc Gin cuối. Chị hơn tôi bốn tuổi nhưng giận dỗi như con nít, suốt đường tôi chở chị về chị chỉ nhìn ra cửa sổ ngun ngút, tựa đầu vào kính không nhìn tôi nửa cái. Tôi không trách chị mà trách mình, Hyunjung của tôi cô đơn đến mức nào, chị đã từng nói đèn sân khấu tắt chỉ thấy một mình tôi thôi mà.
"Chị, em xin lỗi. Lần sau em không đến muộn nữa."
"Nếu Jiyeon bận thì để chị tự về cũng được. Không cần phải gấp gáp như vậy."
Rồi chị cũng thôi tựa đầu, quay sang đan tay vào tay tôi đang buông thả nơi cần số, nhưng chốc mắt lại nhìn vào xa xăm. Tôi biết mình làm chị buồn. Không phải buồn vì tôi đến trễ, là vì nhận ra chính chị bẽ bàng đến nhường nào khi ánh đèn vụt tắt, là thế nào khi một ngày nọ bên dưới không còn ai vỗ tay cho mình.
Tôi từng nghĩ môi chị đỏ là do màu son. Lũ trẻ con trên phố chạy quanh chị chỉ trỏ, người lớn nói chúng rằng mấy ả tô son đỏ chót như vậy thì nhiều phần bại hoại. Cái suy nghĩ này, gặm nhắm từng cá thể ở đây như một loài mọt làm mục rỗng những khúc gỗ, cho dù Thượng Hải đã thôi cái mùi ngoại lai ngai ngái từ khu Tô giới, người ta xây được nhiều toà nhà chọc thủng tầng mây xanh, đâu đó nơi chốn phồn hoa này người ta vẫn nhìn mấy người như chị bằng nửa con mắt.
Tôi từng nghĩ như vậy, cho dù họ nói sao tôi vẫn thấy chị hợp với màu son đỏ. Lắm lúc chị cười khúc khích, rướn sang người tôi đang cầm lái mà hôn nhẹ lên má, về nhà tôi nhìn vào gương vẫn thấy được mấy phần đo đỏ.
Tôi từng nghĩ như vậy, cho đến khi cả tôi và chị đều bị thứ thức uống từ người pha chế kia làm cho cay sống mũi, chị hôn tôi một cái thật sâu, chị nhắm nghiền mắt còn tôi thì không, nên tôi vẫn còn nhớ được, lúc tôi lấy tay mình quệt đi vết son đỏ trên môi chị, bên dưới chúng vẫn đỏ, không theo cái kiểu chói lọi của mỹ phẩm, đỏ như cái kiểu tôi vẫn luôn nghĩ về chị vậy.
Tôi đã từng nghĩ như vậy, đến khi tôi đạp hết ga đến phòng trà, người pha chế đưa tôi bức thư tay của chị. Màu son đỏ cùng dấu môi chị in lên giấy, tôi sờ vào và tưởng như chị đang hôn tôi, mềm mại và có mùi cay ngắt của rượu Gin trong khoang miệng.
Lắm lúc tôi đi qua quán nọ, vẫn nghe trong đầu mình tiếng chị hát, rồi mơ đến cái điệu cười của chị khi tôi đón chị dưới sân khấu mỗi đêm. Đám trẻ con vẫn chỉ trỏ, nói với nhau rằng chúng nghe người lớn nói "ả đào" nơi này chuyển địa bàn sang nơi khác vì đã hết mối cho mình ở khu này. Tôi cắn chặt môi mình đến bật máu, mặn chát. Đến cả tôi là người đưa đón chị về mỗi tối, còn không rõ tung tích chị, cớ gì mà thanh minh thanh nga với lũ con nít.
Phải chi nói được với chúng, hoặc với cái sức mạnh thần kỳ nào đó để đám người kia biết được, chị đến với Thượng Hải không có gì ngoài mớ ảo mộng trong vắt như mắt trẻ con mới sinh. Còn ai làm mắt chị buồn đến thế kia, tôi vẫn không trả lời được.
Người pha chế quen mặt tôi, lấy cho tôi cốc Gin như thường lệ. Anh nói chắc là chị đến Bắc Kinh, nhưng mà thôi đừng tìm.
Tôi cũng biết vậy, bèn trở về Hàn Quốc.
End.
Bạn đang đọc truyện trên: truyentop.pro