Q1 - Chương 5
Quyển 1: Mười năm đèn sách
Chương 5
Đọc toàn bộ Mạnh Tử thì chưa. Kho tàng văn học Việt Nam nhiều như thế Tùng còn đọc không xuể, sao có thời gian đi đọc Tứ Thư làm gì. Chỉ một lần ngẫu nhiên tranh thủ lướt mạng, đập vào mắt nó là ba niềm vui của người quân tử (quân tử tam lạc) do Mạnh Tử viết.
"Phụ mẫu câu tồn, huynh đệ vô cố, nhất lạc dã. Ngưỡng bất quý ư thiên, phủ bất tạc ư nhân, nhị lạc dã. Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi, tam lạc dã."
Có thể hiểu rằng: "Cha mẹ đều còn, anh em không xảy ra điều gì, đó là niềm vui thứ nhất. Ngước lên không thẹn với Trời, cúi xuống không tủi hổ với người, đó là niềm vui thứ hai. Được dạy dỗ những người tài giỏi trong thiên hạ, đó là niềm vui thứ ba."
Tùng chưa đọc bình giải, chỉ đọc đi đọc lại bản dịch mấy mươi lần, tự đọc tự hiểu theo cách nghĩ của mình. Nó có thể hiểu được ở bối cảnh phong kiến khi chữ "hiếu" và gia đình đặt trên đầu, cha mẹ còn và anh chị em hoà thuận là một niềm vui. Ngay cả ở thời hiện đại, gia đình êm ấm hạnh phúc, mọi người đều khỏe mạnh chẳng phải là điều mà nhà nhà hướng tới đó ư?
Nhưng Tùng không cảm nhận được niềm vui này nhiều. Chắc tâm nó ác, nó thà không có mẹ còn hơn. Nó biết ơn mẹ nó sinh nó ra đời, càng giận mẹ nó sao lại cố gắng kiểm soát cuộc đời nó. Nó mừng vì bố mẹ đã ly hôn, lại cố chạy trốn khỏi nhà nội đặt quá nhiều kỳ vọng vào nó.
Nó chạy tới nhà bác. Nó nghĩ, nhà bác là gia đình êm ấm nhất nó từng thấy, nó muốn bước vào đó xem một lần, muốn thử cảm nhận rõ hơn niềm vui gia đình một lần.
Nó cũng muốn được như anh họ...
Có điều ông trời không cho nó cơ hội đó. Nó chưa kịp cảm nhận gì, chưa kịp kiểm chứng mà đã đến thế giới này rồi. Một thế giới mà nó thật sự không cha không mẹ, là một đứa trẻ mồ côi chân chính.
***
Nghe người đàn ông đó hỏi, Tùng thành thật lắc đầu:
- Cháu chưa đọc. Cháu không biết chữ, chỉ từng nghe thoáng qua.
Tuy nó không chắc thời đại nó đang ở có thật hay không, nhưng mà nó dám chắc chữ cái ở nơi này không đồng nhất với thời đại nó sinh sống. Rất có khả năng nơi này sử dụng chữ Hán, không thì cũng là chữ Nôm, khó mà dùng chữ Latin lắm.
Tưởng tượng đến cảnh một nhóm người mặc đồ cổ trang, tay cầm bút lông cho hợp cảnh, vui vẻ nói chuyện thi từ ca phú mà tờ giấy trên bàn lại viết chữ Latin, Tùng chỉ biết câm nín. Cũng đâu phải thầy đồ thời đại mới, dù có là thầy đồ thời đại mới thì người ta không ai mặc đoàn lĩnh cả!
- Nghe thoáng qua mà nhớ được ư? - Người đàn ông rất đỗi ngạc nhiên.
Tùng vẫn chỉ lắc đầu, không muốn giải thích thêm. Nó đâu thể nói rằng mình đọc được nhưng mà bằng một bảng chữ cái khác. Nói càng nhiều phải giải thích càng nhiều, thế nên Tùng lựa chọn im lặng cho người đời tự suy đoán cho xong chuyện.
Người đàn ông thoáng im lặng. Ông đưa tay vuốt chòm râu dê, chắc đã có suy đoán nào đó hoặc chưa. Thình lình, ông nhìn thẳng vào Tùng, hỏi:
- "Nghĩa, nhân lộ dã" [1] nên giải thích thế nào?
[1] Mạnh Tử viết: “Nhân, nhân tâm dã; nghĩa, nhân lộ dã. Xả kỳ lộ nhi phất do, phóng kỳ tâm nhi bất tri cầu, ai tai!
Nhân hữu kê khuyển phóng, tắc tri cầu chi. Hữu phóng tâm, nhi bất tri cầu! Học vấn chi đạo vô tha: cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỹ.”
Dịch: Mạnh Tử nói: “Đức nhân là tâm con người; đức nghĩa là đường con người. Bỏ đường của mình mà chẳng noi theo, để tâm mình đi mất mà không biết tìm lại, đáng thương thay!
Người ta có con gà con chó chạy đi, thì biết tìm lại. Có tâm mất đi mà không biết tìm lại! Đường lối của sự học vấn không có gì khác: tìm cái tâm mình đã mất mà thôi.”
(bản dịch trong Tứ Thư Bình Giải của Lý Minh Tuấn)
Vế này trích từ một câu khác cũng khá nổi tiếng của Mạnh Tử. Nếu không phải từng đọc Wikipedia, khéo Tùng cũng chẳng tài nào biết được. Không rõ vì duyên cớ gì hay do số trời sắp đặt, Mạnh Tử có bao nhiêu câu hay mà người đàn ông kia lại hỏi trúng số ít Tùng biết.
Tùng chần chờ hồi lâu. Nó không muốn trả lời lắm, nó có cảm giác nếu nó trả lời, đời này của nó sẽ không còn được thảnh thơi nữa. Nó không muốn thế. Đời trước nó sống mười bảy năm, ngồi mòn đít bên bàn học hết mười bốn năm rồi. Đời này nó chỉ muốn ăn chơi nhảy múa, bù lại hết những tiếc nuối trước kia. Nếu nhất định phải có việc làm, chẳng thà đi bộ đội luôn cho nhanh. Không cần ngồi bàn học, không cần phải tỏ vẻ thông thái, không bị điểm số chi phối, nghĩ thôi cũng thấy tự do xiết bao.
Nhưng thấy vẻ mong chờ không giấu được của người đàn ông, Tùng lặng lẽ nắm chặt tay. Chưa bao giờ, chưa từng có ai nhìn nó bằng ánh mắt ấy, ánh mắt vừa hân hoan lại tràn ngập sự bất ngờ, tò mò.
Trong môi trường chỉ toàn người tài giỏi, Tùng không quá nổi bật. Nó không đẹp trai, không phải là người giỏi nhất, không phải là đứa năng nổ nhất, lại càng không có khiếu hài hước. Ở lớp chuyên đó, nó chỉ đơn giản là một con mọt sách lập dị, thích lầm lũi một mình, không bạn không bè.
Ở một nơi chỉ tồn tại một đám học sinh giỏi, những gì Tùng biết, mọi người đều biết. Có những thứ Tùng không biết mà mọi người vẫn biết. Cũng tại nơi chỉ đề cao điểm 9 điểm 10, con 8 đỏ chói kia như cái gai chọc mù mắt Tùng, biến thành số lần đòn roi không hồi kết.
Không áp lực sao được? Không nản sao được?
Nhưng, rõ ràng người đàn ông có cách hiểu riêng rồi, tất cả người đọc sách ở thế giới này đều biết đến Mạnh Tử, thuộc làu Tứ Thư hết rồi. Nó chỉ là một đứa nhóc đến chữ còn chưa biết, tình cờ thuộc vẹt được vài ba câu, sao ông cứ trông chờ nhìn nó như thế?
- Bẩm quan, cái này con trai con biết, không bằng con gọi nó ra đây trả lời quan ạ?
Thấy Tùng mãi không trả lời, mụ đàn bà lại được dịp vênh váo. Mụ thấy Tùng còi dí còi dị, mới có tí tuổi đầu, vắt mũi còn chưa sạch, sao biết được quan huyện hỏi cái gì kia chứ. Chẳng bằng để con trai mụ lên tiếng thay, biết đâu trả lời đúng, còn được quan huyện khen một câu, năm sau thi cử lại được chiếu cố thì sao.
Mụ nghĩ thì hay lắm, đâu có thấy quan huyện thoáng nhíu mày không bằng lòng. Câu này hỏi đại một nho sinh người ta cũng trả lời được vanh vách, ông lại chẳng cần câu trả lời từ những người đã được học đó, chỉ muốn hỏi đứa nhóc này thôi.
Tranh cãi đôi câu với hàng xóm mà cũng thuận miệng nhắc tới Mạnh Tử, ông thật lòng muốn biết thằng nhóc này hiểu được bao nhiêu.
Tùng hít sâu một hơi, vụng về học theo động tác vái lạy của người làng, lễ phép thưa:
- Bẩm quan, cháu xin trả lời ạ.
Quan huyện gật đầu ra hiệu. Tùng nghiến răng, chậm rãi nói ra những gì mình còn nhớ:
- Đức nghĩa là đường đi của con người, là con đường chân chính, đúng đắn và bằng phẳng. Nếu không đi đường "nghĩa", con người ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn, có thể gây hại đến bản thân.
Nó vô cảm nói vẹt một lèo, quan huyện chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại vuốt râu một cái. Ông chỉ trầm ngâm suy nghĩ, không ngắt ngang giữa chừng, không gật đầu mà cũng không lắc đầu.
Tùng nói xong, căng thẳng nắm chặt vạt áo, chờ đợi kết quả cuối cùng. Trái với dự đoán của nó, quan huyện chỉ bâng quơ:
- Đúng là chỉ nghe thoáng qua thật.
Nói cách khác, chỉ hiểu bề nổi. Tùng khe khẽ thở phào, may mà không bị coi thành thần đồng gì đó, bị xách lên trường học luôn.
Ngờ đâu, ngay giây sau quan huyện lại nói tiếp. Giọng nói nghiêm nghị vang khắp không gian, truyền vào tai từng người:
- Nghĩa ở đây là Thập nghĩa. Lễ ký có viết: “Phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ đễ, phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung", đó là Thập nghĩa. [2]
[2] Thập nghĩa
Phụ từ: cha mẹ phải thương yêu con cái.
Tử hiếu: con cái phải yêu kính, hiếu thuận với cha mẹ.
Huynh lương: anh chị phải tốt lành với em.
Đệ đễ: em phải thương mến, kính trọng anh chị.
Phu nghĩa: chồng phải yêu quý, trọn tình với vợ.
Phụ thính: vợ phải nghe theo, chiều thuận ý chồng.
Trưởng huệ: người trên phải ban ơn cho người dưới.
Ấu thuận: người dưới phải vâng theo người trên.
Quân nhân: người cai trị phải có lòng nhân.
Thần trung: bề tôi phải trung thành.
Nói đoạn, ông tức khắc chỉ tay về phía mụ đàn bà và thằng nhóc xấc xược, đanh giọng răn dạy:
- Thương cho roi cho vọt, yêu nhưng cũng cần nghiêm khắc! Người lớn thương trẻ con trong nhà, ấy là “phụ từ”. Nhưng bà nhìn lại xem đứa trẻ này, đã bao giờ “tử hiếu” chưa? Trêu cha đánh mẹ, quen thói ngang ngược, ỷ chiều sinh hư, tiếng xấu của nhà bà còn không phải từ nó mà ra?
Thằng nhóc xấc xược sợ rúm người, núp sau mụ đàn bà. Mụ thấy mà lòng xót xa vô bờ, ôm cháu khóc ròng:
- Nó trẻ con mà, nó biết gì đâu.
Tùng cười mỉa một tiếng:
- Nó không biết thì bà cũng đui à? Không biết thì học, bà biết thì bà phải dạy nó để nó biết. Có thế cũng không nghĩ ra.
Dân làng xôn xao đồng tình. Nghe hơi chói tai cơ mà lại hợp lý. Trẻ con không biết thì người lớn dạy, chẳng lẽ mấy chuyện kiểu này người lớn cũng không biết ư? Nói ra không sợ người ta cười vào mặt à?
Tùng trước kia thỉnh thoảng sẽ lướt báo mạng, thấy câu "nó là trẻ con mà" đến chai cả mắt, người đọc xem xong cũng chửi mỏi cả mồm. Trong những câu chuyện như thế, người lớn thường khó mà nhận ra nguyên nhân sâu xa của cái sai xuất phát từ chính bản thân họ. Nếu không phải họ dung túng, quá mức nuông chiều những đứa trẻ, khi xảy ra chuyện thì chỉ biết biện minh rằng đứa trẻ còn nhỏ, thì sao lại có nhiều đứa “phá gia chi tử” đến vậy?
Quan huyện không quan tâm mụ đàn bà khóc la giãy đành đạch dưới đất. Đâu phải lúc nào ăn vạ cũng giải quyết được mọi chuyện đâu. Ông hắng giọng, nhẹ nhàng nói:
- Nuôi con còn chưa nên người, sao đảm đương nổi việc nước? Thôi, ta thấy anh nhà vẫn nên học thêm vài năm nữa rồi hẵng thi lại.
Mụ đàn bà đơ ra, ngã ngửa ra sau ngất xỉu ngay tại chỗ. Dân làng xúm xít vây quanh, người đi gọi người nhà, người cõng mụ về, người đi gọi thầy lang. Giữa đám đông đang hoảng loạn đó, gương mặt tèm lem nước mắt nước mũi của thằng nhóc xấc xược vẫn rất nổi bật. Nó đứng đơ ra như tượng, hồi lâu sau mới ngã ngồi xuống đất, khóc ré lên.
Mới đầu Tùng không hiểu gì cả. Tại sao tin vài năm nữa thi lại lại làm mụ đàn bà sợ đến ngất thế nhỉ? Nhóc béo đứng kè kè cạnh Tùng nãy giờ, thủ thỉ kể cho nó nghe. Thì ra triều đình ra quy định ai được đi thi, trong đó có yêu cầu người phải có đức hạnh. Nếu bản thân mang tiếng xấu thì cả mình và con cháu đều không được dự thi.
Tuy rằng chẳng ai rõ thước đo đức hạnh dùng như nào, áp dụng ra sao, cũng có khả năng có người vờ vịt thoát được cửa ải này, song Tùng vẫn thấy quy định này khá thú vị. Ban đầu nó rất sửng sốt, cái lề gì thốn? Đi thi thôi mà còn xem nhân cách nữa à? Uầy! Nó nghĩ vòng nghĩ vèo, nghĩ đến tự mừng húm, nếu mẹ nó ở đây có thấy cảnh này chắc cũng phải khóc ngất như mụ đàn bà kia quá.
Thấy sao? Đường học vấn của con trai yêu quý bị chính bản thân chặt đứt đó, vui không?
Tùng cười hí hí như thằng điên. Mọi người xung quanh tưởng nó sướng vì người sai bị phạt đúng tội. Nhóc béo rón rén lại gần, hai cái má bụ bẫm viết từ "ngượng ngùng". Nhóc ta tự giới thiệu:
- Tôi... Tôi tên Chung.
Tùng ngẩn ngơ nghĩ ngợi. Chung hay Trung? Trung trâu hay Chung chó? Nó nên phát âm là "Trung" trờ nặng hay "Chung" chờ nhẹ?
Rồi nó chợt nghĩ, giờ nó xoắn xuýt cái này làm gì. Là người Việt Nam chính hiệu, viết sai chính tả mới sợ, chứ âm "tr" và "ch" có gì khác nhau.
Kết bạn mới quan trọng này!
Tùng hớn hở lắm, nó chưa từng có một người bạn thực sự. "Bạn" mà nó biết chỉ có bạn cùng lớp, bạn cùng nhóm, bạn cùng bàn, xa hơn có bạn cùng trường. Tuy đều là "bạn" nhưng để gọi là bạn thân thiết thì lại không có ai.
Anh họ không tính!
Tùng vui vẻ toan giới thiệu mình thì bị quan huyện chen ngang. Ông cười hiền, đưa ra một lời mời mà Tùng mãi về sau vẫn không quên.
- Cháu muốn làm con ta không?
Câu hỏi ấy khiến não Tùng lập tức chết máy. Nó ngỡ ngàng ngước lên nhìn quan huyện. Nói thật, nó bị sợ, sợ nhiều hơn vui mừng.
Thấy mặt nó tái mét, quan huyện hơi ngập ngừng. Ông đoán hẳn nó sợ bị bỏ rơi lần nữa. Cũng phải, đến người thân ruột thịt còn nỡ bỏ nó trong góc vắng nhất của ngôi làng, huống chi là người dưng nước lã.
Ông không vội lặp lại đề nghị trước đó, chỉ dịu giọng hỏi:
- Ta nhớ cháu tên Lê nhỉ?
Tùng gật đầu thưa vâng. Phải vậy. Ở nơi này, Tùng không phải tên Tùng. Nó tên là Lê, bởi vì được nhặt ở dưới gốc cây lê nên được đặt tên vậy.
Và nó chỉ có cái tên đó thôi. Nó không cha không mẹ, người ta cho nó tên để tiện gọi, chứ nó chẳng có họ. Sư Tâm từng đề nghị để nó theo họ thầy nhưng bị nó từ chối. Nó thấy mình không có họ cũng chẳng sao hết, như vậy chứng tỏ nó không có ràng buộc gì với thế giới này ngoài một cái tên lẻ loi.
- Vậy cháu có muốn đi học không?
Quan huyện lại hỏi. Tùng quả quyết lắc đầu. Nó học quá nhiều, học đến ám ảnh tâm lý rồi, nó không dám học nữa. Nó thà làm một tên đần mù chữ mà lớn còn hơn tiêu hao cuộc đời mình bên sách vở.
Nó biết việc học quan trọng như thế nào với đời nó, nhưng giữa học đến đột tử và sống vui đến già, nó sẽ chọn sống vui đến già. Còn học đến đột tử? Để lúc nào về thế giới cũ rồi tính.
Tùng luôn biết rõ mình sẽ quay lại thế giới cũ, tình huống của nó tương đối giống với anh họ nó. Nếu anh nó thực sự xuyên không về nhà Lý ba mươi sáu năm và vẫn trở về được thì nó cũng vậy.
Anh họ nó còn bị ba viên gạch vào đầu, nó chỉ bị Covid thôi. Biết đâu khi nó khỏi bệnh, tỉnh lại sẽ thấy quê cũ nên nó không cần thiết tốn thời gian học tập kiến thức của nơi này làm gì, cũng không cần phải noi gương nhân vật chính truyện xuyên không. Nó không giỏi đến mức có tất cả kiến thức về khoa học kỹ thuật của hiện đại trong đầu, nó không thể chép thơ người xưa làm màu trước thiên hạ, nó chỉ cần sống vui sống khoẻ là được rồi.
Nghĩ xa hơn nữa, nó ước gì mình sẽ trở thành một vị tướng lẫm liệt đầu đội trời chân đạp đất, làm một anh hùng bảo vệ hoà bình cho đất nước. Nghe thôi cũng thấy ngầu rồi.
Mơ mộng đến viễn cảnh một mai làm một vị tướng hùng dũng, lưng hùm vai gấu, Tùng càng thêm dứt khoát từ chối việc học. Nó chẳng chờ quan huyện nói thêm cái gì, chỉ kịp vứt lại tên mình cho Chung nghe thấy, rồi lập tức cong chân chạy biến.
***
Trong chùa nhỏ, cụ trụ trì gấp quyển kinh Phật lại, khe khẽ thở dài:
- Rõ là có một bụng thi thư, lại chỉ muốn nằm không chờ chết.
Sư Tình vừa đi quét sân về, nghe cụ đột nhiên nói vậy bèn hỏi:
- Là Lê hở thầy?
Từ lúc Lê đến chùa sinh sống, cụ trụ trì ngày ngày tấm tắc nó sinh ra đã có mùi bút mực. Sư Tình không ngửi thấy mùi gì cả, cũng không như sư Tâm mà tin sái cổ lời tiên đoán của cụ trụ trì. Với thầy, những cái mắt thấy tai nghe mới là thứ đáng tin nhất. Thầy chỉ thấy một thằng Lê lười biếng hết ăn lại nằm, đâu có thấy "bụng thi thư" gì đâu.
Cụ trụ trì nhẹ nhàng lắc đầu, thở dài não nề:
- Trời sinh tính. Trời sinh tính...
Sư Tình không hiểu lắm, đành đi cất chổi rồi đến giếng múc nước. Sư Tình vừa đi, sư Tâm tiến vào, đến trước mặt cụ trụ trì nói nhỏ:
- Thưa thầy, quan huyện muốn nhận Lê làm con nuôi.
Cụ trụ trì hơi ngước mắt lên, suy tư hồi lâu.
- Một ngày làm thầy, cả đời làm cha. - Cụ nói.
***
Tác giả tám nhảm: Thấy tôi chăm chưa? Siêu cấp chăm luôn! Một cuối tuần đẻ sòn sòn hai chương luôn đó! Mấy bà khen tôi đi 🌹🌹🌹
Bạn đang đọc truyện trên: truyentop.pro